|
Truyện cổ tích
Hà Ô Lôi và nghề ca hát ngày xưa
Song Thuận
sưu tập
Mở
đầu:
“Hà Ô Lôi” là đề tựa một truyện cổ tích
trong Lĩnh Nam Chích Quái. Theo dịch giả Lê Hữu Mục, đây là loại truyện
cổ tích thế sự “trình bày những bức tranh tả chân về người đời, lột trần
những hành vi xấu xa giả dối của họ”. Hà Ô Lôi ám chỉ tên một nhân vật
lịch sử thời vua Trần Dụ Tông, đó là Dương Nhật Lễ. Theo Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư, Dương Nhật Lễ là con trai của một người làm trò, diễn tuồng
ca hát, tên là Dương Khương. Mẹ của Nhật Lễ khi diễn tuồng “Vương Mẫu
hiến bàn đào”, thường thủ vai Vương Mẫu, nên mang tên hiệu này. Khi Vương
Mẫu đang có thai, Cung Túc Đại Vương Dục (Dục thuộc hàng trưởng, tính
ngông cuồng, không được nối ngôi) say mê tiếng hát và vẻ xinh đẹp của
nàng, đã lấy về làm vợ và nhận đứa con sinh ra làm con thứ của mình. Sau
khi vua Dụ Tông băng hà (1369), vì không có con nên Nhật Lễ được tôn lên
làm vua. Dương Nhật Lễ sau đó đã đầu độc giết bà Hoàng Thái Hậu và Cung
Định Vương (anh vua Dụ tông). Cuối cùng, Dương Nhật Lễ cũng bị giết chết.
“Truyện Hà Ô Lôi phản ảnh những nếp
sống hư đốn đời Trần Dụ Tông”. Đó là một thời kỳ đen tối trong lịch sử
triều Trần: ngoài thì giặc cướp nổi lên như ong, dân chúng lầm than khổ
sở, trong Triều thì Vua Dụ Tông sống bê tha trụy lạc, mê hát sướng, rượu
chè bài bạc xa hoa, nghe theo nịnh thần làm điều sai quấy, đến nỗi danh
nho Chu Văn An đã phải dâng thất trảm sớ, xin chém bẩy nịnh thần.
Nghề
hát chèo tại nước ta bắt đầu từ bao giờ?
Ca hát và âm nhạc ở nước ta đã có từ
lâu. Tuy nhiên, nghề hát chèo có lẽ đã du nhập vào Đại Việt từ sau cuộc
chiến thắng quân Nguyên Mông, và phát triển từ thờiø Trần Dụ Tông (1341-1369).
Theo Việt Sử Tiêu Aùn của Ngô Thời Sỹ, “Khi trước lúc đánh phá Toa Đô,
bắt được con hát là Lý Cát hát giỏi, các thiếu niên, con hầu đều tập lối
hát bắc, thuật tích cổ Tây Vương mẫu hiến đào, 12 người mặc áo gấm đánh
trống, thổi tiêu, thay nhau trở ra, trở vào làm tro øvui (tiếng hát rất
thê thảm, làm cho ai cũng động lòng cảm khái). Nước ta có truyện tích
hát chèo trước từ đây.” Cũng vì thế, trong cung cấm, vua và triều thần
đều mải mê đến việc nghe hát xướng, xao lãng việc triều chính. Nhà vua
thường bắt các Vương Hầu đặt ra tuồng hát, và duyệt xem tuồng nào hay
thì thưởng.
Tại
sao trong dân gian có câu: “Xướng Ca Vô Loài”?
Cho đến những năm trước 1955, nhiều
gia đình Việt Nam vẫn chưa chấp nhận ca hát là một nghề bình thường cao
quý như tất cả những nghề bình thường cao quý khác, nên cha mẹ thường
ngăn cấm con em theo học nghề này.
Ngày xưa, cũng vì Triều Đình thời vua
Trần Dụ Tông ăn chơi trác táng, mê hát xướng không lo việc nước, khiến
dân chúng phải sống khổ sở, nên họ rất oán ghét nghề ca hát. Chưa kể,
trong dân gian, những nghệ nhân sống về nghề ca hát, thường bị xã hội
khinh khi, gọi là “con hát”, một phần vì xã hội không chấp nhận đó là
một nghề bình thường, lương thiện. Phần khác, những cô gái đẹp mang nghiệp
cầm ca thường làm mê hoặc tinh thần các đức lang quân, khiến nhiều gia
đình phải xào xáo, tan nát. Bao nhiêu nỗi uất ức của những người vợ mất
chồng, con mất cha đều quy tội lên đầu những nghệ nhân khốn khổ, cũng
vì say mê nghệ thuật cầm ca mà phải chịu lắm điều cay đắng.
Hà
Ô Lôi đã bị kết tội như thế nào?
Sau khi cho biết truyện cổ Hà Ô Lôi
tố cáo cuộc sống bê tha, tội lỗi triều Trần cũng như đời sống giả dối
dâm dật của người phụ nữ góa quyền quý, dịch giả Lê Hữu Mục đã phê phán:
“Con người say mê thanh sắc như Hà Ô Lôi đã bị đền tội một cách xứng đáng.
Xã hôi đã phỉ nhổ con người điếm đàng ấy. Giọng ca dâm dật của nó không
làm cho phong tục dịu dàng hơn mà chỉ gây ra những cảnh náo nức dục tình.”
Truyện
Hà Ô Lôi
“Niên hiệu Thiệu Phong thứ sáu đời Dụ
Tông nhà Trần (1346), có một người làng Ma La tên là Đặng Sĩ Dinh làm
quan An Phủ Sứ, phụng mệnh đi sứ Tàu. Bà vợ là Vũ Thị ở nhà. Trong làng
có một ngôi đền thần gọi là Ma La Thần, thần tinh đêm đêm hóa làm Sĩ Dinh
từ cách đứng ngồi đến nét mặt đều giống hệt Sĩ Dinh, rồi vào phòng Vũ
Thị cùng nàng thông dâm; gần sáng lại đi, không biết đi đâu.
Đêm sau, Vũ Thị hỏi rằng:
- Phu quân đã phụng mệnh Bắc sứ, sao
lại đêm đêm được về mà ngày thời không thấy?
Thần nói dối rằng:
- Vua đã sai quan khác đi sứ , bảo ta
chầu hầu tả hữu cùng vua đánh cờ, vậy không cho ra ngoài; ta niệm tình
vợ chồng nên đêm trốn về với nàng để thỏa bề ân ái, sáng ngày phải gấp
về triều không dám ở lâu, gà gáy lại phải đi.
Vũ Thị trong lòng lấy làm nghi. Giáp
một năm, Sĩ Dinh đi sứ về thì Vũ Thị đã có thai gần đẻ; Sĩ Dinh đem việc
tâu với vua. Vũ Thị bị hạ ngục.
Đến đêm, vua mộng thấy một vị thần đến
trình rằng:
- Thần đây là thần Ma La, vợ là Vũ Thị
đã có thai bị Sĩ Dinh tranh mất.
Vua giật mình tỉnh dậy, sáng ngày bảo
ngục quan đem Vũ Thị đến tra hỏi sự do.
Vua phán rằng:
- Vợ thì trả lại cho Sĩ Dinh, còn con
thì giao cho thần Ma La.
Quá ba ngày, Vũ Thị đẻ ra một cái bọc
đen, xé ra thì được một đứa con trai, da thịt đen như mực; đến mười ba
tuổi, đặt tên là Ô Lôi, tuy đen như sơn nhưng da láng như mỡ. Mười lăm
tuổi, vua triệu vào chầu, rất là sủng ái nên cho làm tân khách.
Ô Lôi ra đi chơi gặp Lã Động Tân, Động
Tân hỏi:
- Em bé đẹp lắm! Em có muốn cầu điều
gì không?
Lôi thưa:
- Hiện nay thiên hạ thái bình, nhà nước
vô sự, phú quí xem như đám phù vân vậy, tôi chỉ muốn có thanh sắc, cho
vui tai thích mắt mà thôi.
Động Tân nói:
- Em ưa thanh sắc thì được cũng như
mất, nhưng danh sẽ được lưu ở đời.
Nhân đó bảo Ô Lôi há miệng xem thử;
Ô Lôi há miệng ra, Động Tân nhổ nước bọt vào bảo nuốt rồi bay lên không
mà đi.
Từ đấy, không biết chữ, nhưng Ô Lôi
biện bác mẫn tiệp, có những điều hơn người về từ chương, thi phú, ca kịch,
ngâm xướng; cái giọng phúng vịnh như đùa gió cợt trăng, như mây bay nước
chảy làm cho ai ai cũng thích nghe, đến như đàn bà con gái lại còn thích
nghe hơn, càng muốn thấy mặt nó.
Vua thường bảo ở triều rằng nếu ai có
thấy Ô Lôi gian phạm con gái nhà ai, bắt nó đến đây thì vua thưởng tiền
một nghìn quan, nếu giết nó đi thì phải bồi thường một vạn quan . Đi chơi
đâu, vua thường cho nó đi theo.
Lúc bấy giờ ở làng Nhân Mục có một nàng
Quận Chúa thuộc về hàng Tôn thất tên là A Kim, mới hai mươi ba tuổi mà
chồng đã mất sớm, ở góa nhưng nhan sắc diễm lệ tuyệt thế vô song. Vua
thích, nhưng cầu thông không được. Vua lấy làm lạ, bảo Ô Lôi rằng:
- Mày có kế gì lấy được Quận Chúa không?
Ô Lôi thưa:
- Thần nguyện hết sức trong hạn một
năm nếu không thấy mặt thần tức là mưu bất thành, thần đã chết rồi.
Ô Lôi bái từ mà đi, về nhà lập tức cởi
bỏ áo xiêm, dầm mình ở bùn lầy, phơi ra nắng mưa cho mặt mầy xấu xí, rồi
mặc một cái khố vải giả làm đứa giữ ngựa, lấy một đôi giỏ tre, một phong
cau trầu, đến gần ngoài cửa nhà Quận Chúa , đưa phong cau trầu cho người
hôn đồng giữ cửa mà xin vào cắt cỏ. Người hôn đồng cho vào. Lúc bấy giờ
vào khoảng tháng năm, tháng sáu, hoa nhài nở đầy vườn, Ô Lôi nhất thiết
cắt sạch cho vào trong giỏ. Thị tỳ thấy vườn hoa đã hết mới hô lên bắt
Ô Lôi trói lại, giam được ba bốn ngày không thấy người đến nhận, mới hỏi
nó rằng:
- Mày ở cho nhà nào, sao không thấy
chủ mày đến chuộc?
Ô Lôi thưa:
- Tớ là người phiêu bạc, không có cha
mẹ, không có chủ nhà, thường theo lũ con hát làm vườn kiếm ăn. Ngày trước
thấy một ông quan cột ngựa ngoài cửa thành Nam, ngựa thì đói mà cỏ thì
không có, gia đồng cho năm đồng tiền bảo đi cắt cỏ. Tớ mừng được tiền,
đi cắt, có biết hoa nhài là gì đâu, ngỡ là cỏ cả. Bây giờ không lấy gì
thường, nguyện vào làm nô để trả nợ ấy.
Giữ nó hơn một tháng, gia chủ, nô tỳ
thấy đói khát thì cho ăn uống với họ; đêm thời ca xướng , giao du với
hôn đồng. Từ gia chủ, nô tỳ đến kẻ nội thị cơ quyến nghe đến tiếng hát
của nó đều say mê muốn nghe mãi.
Một hôm, quá hoàng hôn rồi mà không
thấy thắp đèn, Quận Chúa thầm ngỡ là tả hữu không có người, giận quá gọi
thị tỳ đến trước mặt để trách mắng cái tội đã bỏ việc không lo, toan đánh
đòn nữa.
Thị tỳ vòng tay tạ tội rằng:
- Chúng con nghe thằng cắt cỏ nó ca
hát hay quá, say mê quên cả về, không ngờ bỏ việc đến thế, bây giờ Quận
Chúa đánh đập hay giáng truất chúng con đều cam chịu.
Quận Chúa làm ngơ không hỏi nữa.
Lúc bấy giờ tiết mùa hạ nóng nực, đêm
mới đầu canh, Quận Chúa cùng với bọn thị tỳ ngồi chơi giữa sân, hóng gió
trông trăng, lấy làm thắng thưởng, bỗng lắng tai nghe thấy tiếng hát Ô
Lôi ở bên kia tường; tiếng hát véo von như tiết điệu Quân Thiên, khác
hẳn thanh âm ở trên đời; tinh thần nhiễm hội ý tứ thê lương lại càng thêm
vui thích, bèn sai thị tỳ đem Ô Lôi vào làm gia đồng, một mình ở bên tả
hữu để sai khiến, dần dần thành ra một người tớ cận mật , thường bảo nó
ngâm vịnh để vợi mối tình uất kết. Ô Lôi nhân đó càng thêm siêng năng,
bôn tẩu phục dịch, Quận Chúa càng thêm tín sủng cho làm khách nhi, ngày
thời chầu chực bên cạnh, đêm thời cầm đèn đứng hầu; có khi bảo nó ca xướng;
thanh âm thấu cả trong ngoài, Quận Chúa vì thế cảm động mới thành chứng
bệnh u uất; dần dà đến ba bốn tháng, bệnh lại nặng thêm, bọn thị tỳ phục
sức lâu ngày thành ra mỏi mệt, đêm khuya ngủ quên, Quận Chúa kêu không
hay biết.
Một hôm Ô Lôi đêm vào hầu bệnh, đứng
gần Quận chúa; Quận Chúa không ngăn được tình dục, mới bảo Ô Lôi rằng:
- Từ ngày mày vào đây, vì giọng hát
của mày mà ta thành bệnh.
Rồi cùng Ô Lôi giao thông, bệnh dần
dần bớt.
Từ đó tình ái càng ngày càng thân mật,
đến như cái vẻ xấu xí cũng không cần đoái tiếc gì nữa, lại muốn đem ruộng
đất cho Ô Lôi làm nhà ở.
Ô Lôi nói:
- Tôi không có nhà cửa, nay gặp được
Quận Chúa, thực là thiên tiên, đó là phúc cho tôi rồi đó, tôi chẳng muốn
điền sản, vàng bạc, châu báu, chỉ nguyện được cái mũ giát vàng khảm ngọc
của Quận Chúa tiến triều, đội thử một cái thì dầu chết cũng nhắm mắt vậy.
Cái mũ giát vàng khảm ngọc là của Tiên
Đế ban cho Quận Chúa để đội những khi có lễ triều cống, đến nay Quận Chúa
cũng cho Ô Lôi không tiếc. Ô Lôi được mũ rồi bèn âm thầm đi về, đội mũ
ra mắt vua; vua thấy thế mừng quá, lập tức đòi Quận Chúa tiến triều. Ô
Lôi đội mũ đứng hầu. Vua hỏi Quận Chúa rằng:
- Có biết Ô Lôi không?
Quận Chúa trông thấy thế ngượng lắm.
Ô Lôi có bài quốc ngữ (tức chữ nôm)
rằng:
Chỉn
đà náu đến nguyện làm tôi
Hai
chữ Thiên Tiên để cha Lôi.
Từ đó tiếng đồn ra thiên hạ, con gái
nhà Vương Hầu thường chê cười. Có bài thơ quốc ngữ rằng:
Sương
kể dầu sương vẹn được mười,
Những
nơi quyền quí thiếu chi người,
Bởi
vì thanh sắc nên say đắm,
Khá
tiếc cho mà lại khá cười!
Tuy có thơ bỉ mặt như thế nhưng thường
bị tiếng hát lôi cuốn không thể tránh được nên thường cùng nó giao thông;
không có ai dám đánh đập nó vì đã có lời Chiếu bắt thường tiền.
Sau Ô Lôi tư thông với cô con gái đầu
lòng của nhà Minh Uy Vương; Vương bắt được giam lại nhưng chưa giết. Sáng
hôm sau, Minh Uy Vương tiến triều tâu rằng:
- Ô Lôi hồi đêm vào nhà thần, tối sáng
khó phân biệt nên thần lỡ đã đánh chết, dám xin tạ tiền, bao nhiêu thần
xin tiến nạp.
Vua không biết là chưa giết, lập tức
phán rằng:
- Lúc đó mà đánh chết thời không kể.
Lúc ấy Huy Từ Hoàng Hậu là chị ruột
Minh Uy Vương nên vua có ý nể. Minh Uy Vương trở về giết Ô Lôi. Trước
khi sắp chết, Ô Lôi ngâm một bài thơ quốc ngữ như sau:
Sinh
tử là trời sá quản bao,
Nam
nhi miễn được tiếng anh hào
Chết
vì thanh sắc cam là chết
Chết
đáng là nên cơm cháo nào.
Lại bảo rằng:
Lã Động Tân đã nói với ta: “Thanh sắc
của mày, được mất ngang nhau, lời nói rất đúng vậy.”
Kết
Luận:
Truyện cổ tích Hà Ô Lôi đã diễn tả lại
cuộc sống sa đọa cuối đời vua Trần Dụ Tông. Nghề Hát Chèo có lẽ đã được
du nhập vào Đại Việt và phát triển trong thời gian này.
Trong nghề ca hát, thanh (âm
thanh, giọng hát, khúc nhạc, tiếng đàn), sắc (mầu sắc, sắc đẹp,
cảnh trí, ánh sáng), là hai thành phần quan trọng nhất. Hà Ô Lôi không
màng cảnh vinh hoa phú quí, mà chỉ thích thanh sắc để được vui tai thích
mắt. Đó quả là một người có tâm hồn nghệ sĩ.
Nhưng tại sao Hà Ô Lôi có đủ thanh sắc,
được người đời mê đắm, ưa chuộng, nhất là giới phụ nữ, nhưng vẫn bị xã
hội khinh khi? Đó chẳng qua vì Hà Ô Lôi chỉ dùng thanh sắc trong nghề
ca hát vào những mục đích tầm thường thấp kém, cốt thỏa mãn tính dục ích
kỷ của mình. Thanh sắc của Hà Ô Lôi “có cũng như không” là thế!
Sách tham
khảo: Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt
Sử Tiêu Aùn - Ngô thời Sỹ, Lĩnh Nam Chích Quái - Bản dịch Lê Hữu Mục.
|