Thơ Xưóng
Họa
Kỷ Niệm Hai Bà Trưng
Lời Mở Đầu:
Nhân ngày Kỷ Niệm Hai Bà Trưng, 6 tháng 2 năm Giáp Thân, Câu Lạc Bộ Hùng
Sử Việt tuyển chọn một số bài đặc biệt về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà.
Quý vị độc giả có bài, hoặc sưu tập được những bài viết về Hai Bà Trưng
kể cả Thơ, Văn, Nhạc, Kịch, Họa, xin gửi Email về: webmasterAThungsuviet.org
(xin thay chữ AT bằng chữ @) để phổ biến rộng
rãi tới đồng hương, nhất là các bạn trẻ. Xin đa tạ - Câu Lạc Bộ Hùng Sử
Việt).
Vài Hàng Sử Liệu:
Tiểu Sử: Bà Trưng Trắc (? - 43
) và Bà Trưng Nhị (? - 43) là hai chị em, con gái quan
Lạc Tướng ở huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên).
Bà Trưng Trắc là vợ ông Thi Sách, người quận Châu Diên, phủ Vĩnh Tường,
Vĩnh Yên.
Công Đức: Năm Canh Tí (40), Thái Thú Tô Định quận
Giao Chỉ là người bạo ngược, chính trị tàn ác, lại giết ông Thi Sách nên
lòng dân rất oán giận. Hai Bà Trưng có công đánh đuổi Thái Thú Tô Định
và quân Đông Hán, hạ được 65 thành trì, giải phóng quận Giao Chỉ và thu
phục thêm ba quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố (Quảng Đông), lấy lại
hơn phân nửa nước Nam Việt nhà Triệu. Hai Bà Trưng lên làm vua, đóng đô
ở Mê Linh. Trưng Nữ Vương (40 - 43) chính là những vị nữ anh hùng đã “Mở
Đường Độc Lập” cho dân tộc Việt.
Đền Thờ: Tại nhiều nơi như Làng Đồng Nhân (Đại
Lý Hoàn Long, phía Nam thành phố Hà Nội)., Đền Xã Hát Môn còn gọi là “Miếu
Hát” ngay bên bờ sông Hát (Huyện Phúc thọ, tỉnh Sơn Tây), Đền Hạ
Lôi làng Hạ Lôi, phủ Yên Lăng, Tỉnh Phúc Yên (Mê Linh xưa).
Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch mỗi
năm.

Trưng
Nữ Vương (1 Mbytes RealAudio)
Hợp Ca
(Xin nhấn vào chữ “Trưng Nữ Vương” để nghe bài hợp ca)
____________________________________________________________
Cảm đề 1
Uy nghi lưng tượng, tuốt gươm thần
Nhị vị Anh Thư đưổi ngoại xâm.
Dũng mãnh quân Nam, cờ thét gió
Kinh hoàng giặc Hán, lửa vong thân.
Vương
Sinh
____________________________________________________________
Cảm đề 2
Trên voi trận tuốt gươm , khởi nghĩa!
Dáng oai nghiêm mang sức mạnh non sông
Từ nghìn xưa để lại giống anh hùng
Sống giông tố muôn đời không khuất phục!
Sơn
Khê
____________________________________________________________
Cảm đề 3
Trưng nữ Vương cưỡi voi đuổi giặc
Vung gươm thiêng diệt Hán xâm lăng
Cờ vàng phất bay ngời khí thế
Gươm bạc rực sáng cả trời Nam
XM
____________________________________________________________
Bài Xưóng: Trưng Nữ Vương
Vẹn nghĩa non sông trọn chữ đồng
Ngàn xưa tiết liệt gái phương đông
Thét voi xông trận huơ gươm bạc
Giục ngựa ra quân rạng má hồng
Khiếp vía tan hồn quân Bắc ải
Lừng danh đẹp mặt gái Nam tông
Cung vàng, điện ngọc, đâu màng tưởng
Giúp nước, an đân, rửa hận chồng
Chu
Hà
____________________________________________________________
Bài Họa 1: Trưng Nữ Vương
Thù nhà, nợ nước, vai gánh đồng
Trung trinh, tiết liệt, gái phương đông
Gạt nước mắt, quấn vành sô trắng
Chiêu binh quân, phất ngọn cờ hồng
Cưỡi voi đuổi giặc nơi Bắc ải
Bình nước an dân chốn Nam tông
Thất thế sa cơ, đành tự vẫn
Trọn tiết trung trinh, thác theo chồng
XM
____________________________________________________________
Bài Họa 2: Trưng Vương
Thù nhà, hận nước, kết tâm đồng
Đuổi giặc, hai Bà, thắm sử Đông
Tô Định bỏ thành, tan chiến trận
Trưng Vương dựng nghiệp, xứng con Rồng
Trời Nam cứu quốc, lừng nhi nữ
Đất Bắc cướp làng, nhục giống tông
Góp sức xây đời, yêu đất tổ
Tiết trinh, hùng khí, trọn cùng chồng
Ngoc
Lãng
____________________________________________________________
Bài Họa 3: Trưng Nữ Vương
Chị em khởi nghĩa, ý tâm đồng
Đuổi Hán, hào hùng gái Á Đông.
Đánh giặc, nể vì, phe mặt trắng
Lên ngôi, hãnh diện, phái quần hồng.
Tiếp thu bốn Quận, vang thiên hạ
Đoạt sáu lăm thành, rạng tổ tông.
Trưng Trắc, sử xanh gương tiết liệt
Lo tròn nợ nước, trả thù chồng.
Vương
Sinh
____________________________________________________________
Cảm đề Hai Bà Trưng
Uy nghi lưng tượng, tuốt gươm thần
Nhị vị Anh thư đưổi ngoại xâm.
Dũng mãnh quân Nam, cờ thét gió
Kinh hoàng giặc Hán, lửa vong thân. (Vương
Sinh)
Nghìn mây hồng nổi gương trinh bạch
Vạn sóng xanh đưa nước trắng ngần
Nhẹ bước gieo mình nêu tiết nghĩa
Hát Giang chính khí sáng hồng quần. (Sơn
Khê)
____________________________________________________________
Trưng Vương
Văng vẳng còn vang chiến trận qua
Hiên ngang hùng khí dáng hai Bà
Trên voi xông tới gươm ngời sáng
Dưới đất chạy dài giặc hoảng la
Phất phới cờ đào, quân lướt mãi
Tơi bời áo mão, giặc chuồn xa
Bao năm luôn nhắc gương oanh liệt
Đất nước lẫy lừng, chiến thắng ca
Ngọc
Lãng
____________________________________________________________
Bài Xướng: Khóc Thi Sách
Thi Sách chàng ơi duyên lỡ làng
Trăm năm chẳng trọn nghĩa tào khang
Khóc ai lệ nến tuôn lai láng
Hờn bấy chăn đơn luống bẽ bàng
Điện ngọc canh dài sầu lãng đãng
Cung vàng đêm vắng nhớ mang mang
Hát Giang sương khói trầm cung nguyệt
Nguyện nối đường tơ thiếp gặp chàng
Chu
Hà
____________________________________________________________
Bài Hoạ: Khóc Thi Sách
Từ chàng khuất núi, duyên lỡ làng
Âm dương ngăn trở nghĩa tào khang
Ngoài trận mạc, cầm quân anh dũng
Chốn cô phòng, khóc phận bẽ bàng
Ba quân dưới trướng ngời khí thế
Một mình đối bóng buồn mênh mang
Thù nhà, hận nước nguyền phải trả
Mộ quân, đuổi giặc, thoả ý chàng
XM
____________________________________________________________
Cảm Đề Đền Mã Viện (2)
Trèo non vượt bể biết bao trùng!
Một trận Hồ Tây chút vẫy vùng
Quắc thước khoe chi mình tóc trắng.
Cân đai đọ với khách quần hồng!
Gièm chê luống những đầy xe ngọc,
Công cán ra chi dựng tượng đồng?
Ai đó chép công, ta chép oán
Công riêng ai đó, oán ta chung.
Khuyết
Danh
____________________________________________________________
Trích Việt Báo Forums, Trang “Trưng Vương và Thân
Hữu” do Bích Huyền phụ trách - Mục “Sự tích về nguồn”
- Sơn Khê - Nguồn gốc Hoạ Sĩ bức tranh chưa rõ.
(2) Đền Mã Viện ở Đông Hưng - TH, đối diện với tỉnh Móng Cáy-VN ngó qua
cây cầu biên giới-Theo Việt Sử Toàn Thư, Phạm Văn Sơn.
|