Câu Lạc Bộ

The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840

Trang Ðầu Về Hội Tin Tức Sinh Hoạt Lịch Sử Văn Hóa
Please click here if you cannot read the Vietnamese characters on this website - Xin nhan day neu Qui Vi khong doc duoc chu Viet tren trang nay
Kỷ Niệm Hoàng Diệu (1829-1882)
Ngày 25 tháng 4 năm 2004 (tức 7 tháng 3 năm giáp thân)


Hình Tổng Đốc Hoàng Diệu trích từ www.xuquang.com

Sơ Lược Tiểu Sử: Tổng đốc Hoàng Diệu hiệu Tỉnh Trai, người làng Xuân Đài, quận Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam), sinh ngày 10 tháng 2 năm 1829 (kỷ sửu). Ông thi đậu Phó Bảng năm 1851, được bổ làm Tri Phủ Tuy Viễn (Bình Định). Năm 1873 giữ chức Tham Tri Bộ Hình, rồi Tham Tri Bộ Lại kiêm Đô Sát Viên, dự bàn việc ở Viện Cơ Mật. Năm 1878 thăng làm Thượng Thư Bộ Lại. Khi tình hình ngoài Bắc sôi động, ông được cử đi làm Tổng Đốc Hà Ninh (Hà Nội và Hải Phòng). Ông trấn giữ Thành Hà Nội, cương quyết chống lại sự tấn công của quân Pháp do Đại tá Henry Rivière chỉ huy. Khi thành Hà Nội bị thất thủ, ông đã tuẫn tiết theo thành: đó là ngày 25 tháng 4 năm 1882, hưởng thọ 54 tuổi. Nay còn đền thờ tại Đền Trung Liệt trên Gò Đống Đa Hà Nội (thờ chung với Nguyễn Tri Phương) (Theo tài liệu của Xuân Đài Hoàng Hưng Cháu nội của Tổng Đốc Hoàng Diệu) . Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim: “Sang 5 giờ ngày mồng 8 th 3 năm nhâm ngọ (1882) quan tổng đốc tiếp được tờ tối hậu thư của đại tá hạn cho đến 8 giờ phải giải binh, và các quan võ Việt Nam phải ra đợi lệnh ở Đồn Thủy. Đúng 8 giờ thì quân Pháp khởi sự đánh thành, 11 giờ thì thành đổ. Ông Hoàng Diệu trèo lên cây thắt cổ mà tự tận, còn các quan thì bỏ chạy cả.” (Mồng 8 tháng 3 năm giáp thân là ngày 26 tháng 4 năm 2004).

____________________________________________________________

Sau đây là bài viết của Hoàng Vũ (Chắt nội của tổng đốc Hoàng Diệu):

TƯỞNG NHỚ TỔNG ÐỐC HOÀNG DIỆU QUA THƠ VĂN
Hoàng Vũ


Lời tác giả: Hàng năm vào ngày 25 tháng 4, con cháu họ Hoàng khắp nơi tề tựu tại nhà thờ và lăng mộ của Hoàng Tuớng Công tại làng Xuân Ðài, quận Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam để làm đám giổ Ngài. Nhà thờ và lăng mộ của Ngài được trùng tu lại rất khang trang và khánh thành vào năm 1992, với kinh phí khoảng $20,000 US, do sự đóng góp cuả chính quyền tỉnh Quảng Nam và con cháu họ Hoàng trong nước và khắp nơi trên thế giới. Sau nhiều trận bảo lụt nhà thờ bị hư hại nhiều, nên lại được trùng tu vào năm 1998. Nhân ngày 25 tháng 4 năm 2003, kỷ niệm năm thứ 121 ngày Ông Cố tôi, Binh Bộ Thương Thư Hà Ninh Tổng Ðốc Hoàng Diệu tuẩn tiết tại thành Hà Nội (1882 – 2003), tôi sưu tầm một số thơ do Ngài viết, hiện nay thất lạc chỉ còn một it bài thôi. Ngoài ra tôi cũng xin trích một số thơ văn do các bạn đồng liêu của Ngài, các kẻ hậu bối, cũng như con cháu Ngài đã viêt về Ngài. Từ xưa đến nay đã có nhiều tác giả viết về tiểu sử của Ngài, nên trong bài nầy tôi chỉ đề cập đến những bài thơ do Ngài viết, và những bài thơ viết về Ngài mà thôi. Hầu hêt các bài thơ trong nầy chưa hề xuất bản, vì là tài liệu của gia đình Họ Hoàng chúng tôi.

____________________________________________________________

THƠ VĂN DO NGÀI VIẾT

  • Bài thơ “GIÁNG BÚT” do Ngài viết khi Ngài làm Án Sát ở tỉnh Bắc Giang:

    Hởi khách anh hùng cõi nước Nam
    Trong vòng danh lợi ấy ai khôn?
    Tấc gan tiết nghiã non Nùng vững
    Một dạ trung trinh nước Nhị tuôn
    Một khắc chia vành duyên trắng hẩm
    Trăm năm càng tỏ chút vàng son
    Màu hoa giữ lại xuân thành khách
    Ngọc diệp kim chi chớ để mòn.

  • Bài thơ “QÚA GIANG TỨC CẢNH” do Ngài viết sau khi nhậm chức Thượng Thư Bộ Binh kiêm Hà Ninh Tổng Ðốc, trong khi đi thị sát địa hình địa thế ngoại ô thành Hà Nội.

    Quá bước tìm phương bỗng tới đây
    Khen cho con tạo khéo trưng bày
    Sông e biển cạn bù thêm nước
    Núi sợ trời nghiêng đở lấy mây
    Rạc rạc sóng cồn che mặt nước
    Ào aò gió thổi cuốn rừng cây
    Nửa về nửa ở lòng đâu nở
    Ngán nỗi trời chiều bóng xế tây!

  • Bài “NGỦ HÀNH SƠN KÝ”, nguyên tác bằng chử Hán, viết năm 1877 khi ngài viếng thăm Ngủ Hành Sơn:

    “Dư thường quái Lê Thánh Tôn tuần hành sơ chí giai hữu đề vịnh, hành Quảng Nam phàm tam kiến nhu Ngủ Hành khuyết yên. Ý ngủ bách niên tiền do tại hải trung, khả vọng nhi bất khả đối tòng niệm sa bồi, thủy hửu dân cư, nhi thử sơn xuất hiện.
    Minh Mạng niên giám giá hành Ngủ Hành Sơn, thiết vong giang vọng hải nhị đài. Thượng Hửu Huyền Không, Lăng Hư, Linh Nham, Vân Thông, Tàng Chân ngủ động, khắc tự thạch giang. Hạ hữu Vân Nguyệt, Thiên Long Nhị Cốc, chúc hành lý hứa biệt khai nhất động, thâm nhập âm khí loát cốt, tùng lai vi hửu tích kỳ đế giá. Cái động phúc thiên địa chi kỳ, tất đãi thánh nhân chi hậu kỳ yên?”

    Dịch nghiã: BÀI KÝ NGỦ HÀNH SƠN
    Ta thường thấy làm lạ rằng vua Lê Thánh Tôn đi tuần đến đâu đều có đề thơ ngâm vịnh, song Ngài viếng Quảng Nam ba lần mà không thấy nói đến Ngủ Hành Sơn. Có lẽ trước đây năm trăm năm núi ấy còn ngoài bể, thấy đó mà không tới được, dần dần cát bồi, có người đến ở mà núi đó mới hiện ra.
    Khi vua Minh Mạng ngự giá đến đây ban cho tên là Ngủ Hành Sơn, đặt hai đài Vọng Giang và Vọng Hải. Trên có năm động: Huyền Không, Lăng Hư, Linh Nham, Vân Thông và Tàng Chân, khắc chữ trên bia đá. Dưới có hai hàng: Vân Nguyệt và Thiên Long, thắp đuốc đi bộ một dặm lại mở ra một động nữa, khi đi vào trong khí lạnh buốt xương, từ trước đến nay chưa ai đến tận cùng. Phải chăng chốn động phước thiên kỳ vỹ còn chờ thánh nhân chăng?

____________________________________________________________

THƠ VĂN VIẾT VỀ NGÀI

  • Bài “ÐIẾU HOÀNG TƯỚNG CÔNG” của Tổng Ðốc Nam Ðịnh Võ trọng Bình (1882) (Điếu Tổng Đốc Hoàng Diệu chống Pháp, tuẫn tiết tại thành Hà Nội)

    Nguyên tác bằng chữ Hán viết năm 1882,

    Bình sinh trung liệt đối thanh thiên
    Nhất đáng phi thường thê’ xử nhiên
    Chính khí cao tiêu Nùng Lỉnh thượng
    U hồn tiềm tại thánh nhan tiền
    Quân năng bất phạ Tây dương pháo
    Ngã diệc vô dong Phú lãng thuyền
    Nguyệt bất đồng sinh quân dử ngã
    Anh hùng thành bại nhất tâm kiên.

    Bản dịch của Nguyển Quốc Ðịnh:

    Lòng trung vằng vặt giữa trời xanh
    Cuộc thế xuôi nên một sáng đành
    Khí tỏa non Nùng cao chót vót
    Hồn chầu bệ ngọc sáng long lanh
    Súng Tây bác chẳng hề nao núng
    Tàu Pháp tôi nào chịu mỏng manh
    Không sống cùng thù tôi bác nguyện
    Ðược thua há bận chí hùng anh!

  • Bài “ÐIẾU CỤ HOÀNG DIỆU” của Phó Bảng Nguyễn trọng Tỉnh:

    Một tay cầm bút lại cầm binh
    Muôn dặm giang sơn chỉ một mình
    Phò chúa chuá lo, lo trước chúa
    Giữ thành thành mất, mất theo thành
    Suối vàng chắc hẳn mài gươm bạc
    Máu đỏ âu đành chép sử xanh
    Di biểu hảy còn nêu chánh khí
    Nghìn năm ghi nhớ bậc hùng anh.

  • Trích bài “ÐIẾU TANG ÔNG HOÀNG DIỆU” của các ông Phan đình Phùng, Trần đình Túc, Nguyễn hữu Ðộ, Hoàng hữu Thường Võ Nhự:

    Trượng phu hưá thân vì nước,
    chỉ hết mình nơi việc đáng làm.
    Chí sĩ quyết liệt thành nhân,
    há lại sát thân mà tiếc!
    Thấy nguy liều mệnh,
    thế mới là đáng gọi can trường.
    Coi chết như về,
    thật rõ rệt trần gian hãn hữu.

  • Bài “KÍNH NIỆM CỤ HOÀNG TƯỚNG CÔNG” của bác sỉ kiêm thi sỉ Thái Can:

    Thiết thạch can trường nhất tử trung
    Giang sơn hòa lệ khấp anh hùng
    Phong vân biến sắc bi hào kiệt
    Thaỏ mộc hàm sầu biệt tướng công
    Nhất phiến đang tâm chiêu nhật nguyệt
    Sổ hàng di biểu liễu tang bồng
    Hoành Sơn Trà Lĩnh bi trường tại
    Thanh sử tiền đề vọng cổ phong.

    Dịch:
    Dạ sắt gan đồng một chết trung
    Non sông nhòa lệ khóc anh hùng
    Gió mây phai sắc thương hào kiệt
    Cây cỏ u sầu biệt tướng công
    Một tấm lòng son ngời nhật nguyệt
    Ðôi dòng di biểu sạch tang bồng
    Hoành Sơn, Trà Lĩnh bia còn mãi
    Sử sách muôn năm vẫn sắc phong.

  • Bài: “HÀ THÀNH CHÍNH KHÍ CA” của Nguyễn văn Giai (Ba Giai)

    Một cơn gió thảm mưa sầu
    Nấu nung gan sắc giãi dầu lòng son
    Chữ trung đã rắp vuông tròn
    Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây
    Trời cao bể rộng đất dầy
    Núi Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi
    Thương ôi! Trong buổi lưu ly
    Tấc riêng ai cũng thương vì người trung
    Rủ nhau tiền góp của chung
    Ðưa người ra táng ở thung học đường
    Thiết tha nhẽ ngẩn ngơ nhường
    Tả tơi thành quách tồi tàn vật nhân
    Ngán thay cho cái phong trần
    Ngán thay cho kẻ trung thần lắm thay!

    Vì ai nên nỗi nước nầy
    Ðể người danh tiết biết ngày nào quên
    Dãi Nhị Hà cõi giang biên
    Trăm năm tiếng tốt để nghìn người coi
    Họ Hoàng Tổng Ðốc là ai?
    Anh hùng khẳng khái vốn người cõi Nam
    Ngồi thành Hà Nội mấy năm
    Một phương cõi Bắc ngưả trông thế nào.

____________________________________________________________

Thơ XƯỚNG HỌA: “GƯƠM CHÍNH KHÍ”

  • Bài Xướng: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Xuân Ðài Hoàng Hưng, cháu nội của Hoàng Tướng Công. Bài nầy do thân phụ tôi viết nhân ngày khánh thành nhà thờ của Ngài tại làng Xuân Ðài vào ngày 25 tháng 4 năm 1992. Bài thơ nầy được nhiều thi hữu nồng nhiệt đáp ứng và họa lại. Xin ghi lại đây bài xướng và một số bài họa tiêu biểu mà thôi.

    Gươm lệnh vua trao trấn cõi ngoài
    Tình nhà nợ nước triũ hai vai
    Trượng phu hưá quốc thân nào tiếc
    Chí sĩ lưu phương sử chẳng phai
    Lưỡng độ gươm thiên ngời chính khí
    Thiên thu di biểu rạng anh tài
    Nhiễu điều một dải đền ơn nước
    Ðâu thẹn tiền nhân chốn vũ đài.

  • Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của Hoàng Dũng, chắt nội của Hoàng Tướng Công:

    Gươm báu vua ban trấn giặc ngoài
    Hiếu trung hai chữ trĩu bờ vai
    Hy sinh tựu nghĩa bia ghi tạc
    Tuẩn quốc thành nhân sử chẳng phai
    Di biểu đôi dòng ngời tiết tháo
    Non Nùng lưỡng độ rạng anh tài
    Kiến nguy thọ mạng đền ơn nước
    Oanh liệt vang danh cõi vũ đài.

  • Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của Hoàng Vũ, chắt nội của Hoàng Tướng Công:

    Giặc Pháp mưu toan ở cõi ngoài
    Ngăn loài Bạch Qủi nặng đôi vai
    Tứ bề thọ địch (1) tâm không chuyển
    Bốn phiá công thành dạ chẳng phai
    Nùng Lĩnh còn thương người nghĩa khí
    Nhị Hà mãi tiếc đấng anh tài
    Ngàn năm tiết tháo lưu kim cổ
    Tổ Quốc vinh danh tạc tượng đài. (2)

    (1) Vừa bị quân Pháp bao vây tứ phiá, lại bi nội phản. Ðiển hình là Án Sát Tôn Thất Bá được Ngài cử ra ngoài thành xem xét nội tình, đã cam tâm đầu hàng kẻ địch, lại còn cho giặc biết cách bố trí phòng thủ của quân ta để giặc dễ bề tấn công.
    (2) Thành phố Hà Nôi với sự đóng góp tài chánh của con cháu họ Hoàng đang xúc tiến đúc một tượng đồng của Ngài, không biết đã hoàn thành chưa.

  • Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Hải Cát:

    Tổ quốc lâm nguy giặc lấn ngoài
    Làm trai trung hiếu nặng thềm vai
    Giang sơn một cõi gan không núng
    Khanh tướng đôi bề dạ chẳng phai
    Cứu nước gươm thiên xoay trục đất
    Quên mình chính khí rạng hiền tài
    Tấm gương đại nghĩa ngời thanh sử
    Dũng tiết nghìn thu dấu tượng đài

  • Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Nguyễn Khuê:

    Như ngọn thần phong cuốn buị ngoài
    Trùng trùng sóng hận quyết chen vai
    Cưả ô mấy lớp gươm mài bén
    Cổ giặc bao hàng gió cuộn phai
    Ngời khí ung dung mà tựu nghiã
    Rạng gươm khẳng khái để so tài
    Dấu xưa còn đó xanh giòng sử
    Dải lụa sông Thao ngõ trấn đài.

  • Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Trần ngọc Liễn:

    Vâng lệnh ra đi nhậm xứ ngoài
    Lo toan nhiệm vụ chất đôi vai
    Tình nhà gác lại thân nào quản
    Nợ nước báo đền dạ chẳng phai
    Ðất Bắc nêu cao người nghĩa khí
    Trời Nam tỏ mặt bậc anh tài
    Mất thành tuẫn quốc không hàng giặc
    Sử sách lưu danh, lập tượng đài.

    Canada, đầu xuân 2003

  • Bài Họa “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của Vương Sinh:

    Thước gươm chính khí giữ thành ngoài
    Nợ nước đong đầy nặng trĩu vai
    Bất khuất thề không hàng giặc Pháp
    Trung kiên nguyện giữ nghĩa không phai
    Danh còn nhắc mãi trang hùng sử
    Thành mất thương thay vị tướng tài
    Một dải nhiễu điều trung với nước
    Cháu con tưởng nhớ lập linh đài.

  • Bài Họa: “TỔNG ĐỐC HÒANG DIỆU” của Sơn Khê:

    Hà Thành địch bủa cả trong ngoài
    Hoàng Diệu hiên ngang xứng đáng vai
    Trí dũng ,lòng son khôn thể chạy
    Tâm hùng ,dạ sắt chẳng hề phai
    Phất cờ tam đại nêu cao nghĩa
    Đánh trống ngũ liên tỏ rõ tài
    Vận nước suy vong, thành thất thủ
    Dây oan mượn giải xuống tuyền đài

©2003 Hùng Sử Việt