|
Kỷ Niệm Hoàng Diệu (1829-1882)
Ngày
25 tháng 4 năm 2004 (tức 7 tháng 3 năm giáp thân)

Hình Tổng Đốc Hoàng Diệu trích từ www.xuquang.com
Sơ Lược Tiểu Sử: Tổng đốc Hoàng
Diệu hiệu Tỉnh Trai, người làng Xuân Đài, quận Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam),
sinh ngày 10 tháng 2 năm 1829 (kỷ sửu). Ông thi đậu Phó Bảng năm 1851,
được bổ làm Tri Phủ Tuy Viễn (Bình Định). Năm 1873 giữ chức Tham Tri Bộ
Hình, rồi Tham Tri Bộ Lại kiêm Đô Sát Viên, dự bàn việc ở Viện Cơ Mật.
Năm 1878 thăng làm Thượng Thư Bộ Lại. Khi tình hình ngoài Bắc sôi động,
ông được cử đi làm Tổng Đốc Hà Ninh (Hà Nội và Hải Phòng). Ông trấn giữ
Thành Hà Nội, cương quyết chống lại sự tấn công của quân Pháp do Đại tá
Henry Rivière chỉ huy. Khi thành Hà Nội bị thất thủ, ông đã tuẫn tiết
theo thành: đó là ngày 25 tháng 4 năm 1882, hưởng thọ 54 tuổi. Nay còn
đền thờ tại Đền Trung Liệt trên Gò Đống Đa Hà Nội (thờ chung với Nguyễn
Tri Phương) (Theo tài liệu của Xuân Đài Hoàng Hưng Cháu nội của Tổng Đốc
Hoàng Diệu) . Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim: “Sang 5
giờ ngày mồng 8 th 3 năm nhâm ngọ (1882) quan tổng đốc tiếp được tờ tối
hậu thư của đại tá hạn cho đến 8 giờ phải giải binh, và các quan võ Việt
Nam phải ra đợi lệnh ở Đồn Thủy. Đúng 8 giờ thì quân Pháp khởi sự đánh
thành, 11 giờ thì thành đổ. Ông Hoàng Diệu trèo lên cây thắt cổ mà tự
tận, còn các quan thì bỏ chạy cả.” (Mồng 8 tháng 3 năm giáp thân
là ngày 26 tháng 4 năm 2004).
____________________________________________________________
Sau đây là bài viết của Hoàng Vũ (Chắt nội của tổng
đốc Hoàng Diệu):
TƯỞNG NHỚ TỔNG ÐỐC HOÀNG DIỆU
QUA THƠ VĂN
Hoàng
Vũ
Lời tác giả: Hàng năm vào ngày 25 tháng 4, con
cháu họ Hoàng khắp nơi tề tựu tại nhà thờ và lăng mộ của Hoàng Tuớng Công
tại làng Xuân Ðài, quận Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam để làm đám giổ Ngài.
Nhà thờ và lăng mộ của Ngài được trùng tu lại rất khang trang và khánh
thành vào năm 1992, với kinh phí khoảng $20,000 US, do sự đóng góp cuả
chính quyền tỉnh Quảng Nam và con cháu họ Hoàng trong nước và khắp nơi
trên thế giới. Sau nhiều trận bảo lụt nhà thờ bị hư hại nhiều, nên lại
được trùng tu vào năm 1998. Nhân ngày 25 tháng 4 năm 2003, kỷ niệm năm
thứ 121 ngày Ông Cố tôi, Binh Bộ Thương Thư Hà Ninh Tổng Ðốc Hoàng Diệu
tuẩn tiết tại thành Hà Nội (1882 – 2003), tôi sưu tầm một số thơ do Ngài
viết, hiện nay thất lạc chỉ còn một it bài thôi. Ngoài ra tôi cũng xin
trích một số thơ văn do các bạn đồng liêu của Ngài, các kẻ hậu bối, cũng
như con cháu Ngài đã viêt về Ngài. Từ xưa đến nay đã có nhiều tác giả
viết về tiểu sử của Ngài, nên trong bài nầy tôi chỉ đề cập đến những bài
thơ do Ngài viết, và những bài thơ viết về Ngài mà thôi. Hầu hêt các bài
thơ trong nầy chưa hề xuất bản, vì là tài liệu của gia đình Họ Hoàng chúng
tôi.
____________________________________________________________
THƠ VĂN DO NGÀI VIẾT
- Bài thơ “GIÁNG BÚT” do Ngài viết khi Ngài làm Án
Sát ở tỉnh Bắc Giang:
Hởi khách anh hùng cõi nước Nam
Trong vòng danh lợi ấy ai khôn?
Tấc gan tiết nghiã non Nùng vững
Một dạ trung trinh nước Nhị tuôn
Một khắc chia vành duyên trắng hẩm
Trăm năm càng tỏ chút vàng son
Màu hoa giữ lại xuân thành khách
Ngọc diệp kim chi chớ để mòn.
- Bài thơ “QÚA GIANG TỨC CẢNH” do Ngài viết sau khi
nhậm chức Thượng Thư Bộ Binh kiêm Hà Ninh Tổng Ðốc, trong khi đi thị
sát địa hình địa thế ngoại ô thành Hà Nội.
Quá bước tìm phương bỗng tới đây
Khen cho con tạo khéo trưng bày
Sông e biển cạn bù thêm nước
Núi sợ trời nghiêng đở lấy mây
Rạc rạc sóng cồn che mặt nước
Ào aò gió thổi cuốn rừng cây
Nửa về nửa ở lòng đâu nở
Ngán nỗi trời chiều bóng xế tây!
- Bài “NGỦ HÀNH SƠN KÝ”, nguyên tác bằng chử Hán,
viết năm 1877 khi ngài viếng thăm Ngủ Hành Sơn:
“Dư thường quái Lê Thánh Tôn tuần hành sơ chí giai hữu đề vịnh, hành
Quảng Nam phàm tam kiến nhu Ngủ Hành khuyết yên. Ý ngủ bách niên tiền
do tại hải trung, khả vọng nhi bất khả đối tòng niệm sa bồi, thủy hửu
dân cư, nhi thử sơn xuất hiện.
Minh Mạng niên giám giá hành Ngủ Hành Sơn, thiết vong giang vọng hải
nhị đài. Thượng Hửu Huyền Không, Lăng Hư, Linh Nham, Vân Thông, Tàng
Chân ngủ động, khắc tự thạch giang. Hạ hữu Vân Nguyệt, Thiên Long Nhị
Cốc, chúc hành lý hứa biệt khai nhất động, thâm nhập âm khí loát cốt,
tùng lai vi hửu tích kỳ đế giá. Cái động phúc thiên địa chi kỳ, tất
đãi thánh nhân chi hậu kỳ yên?”
Dịch nghiã: BÀI KÝ NGỦ HÀNH SƠN
Ta thường thấy làm lạ rằng vua Lê Thánh Tôn đi tuần đến đâu đều có đề
thơ ngâm vịnh, song Ngài viếng Quảng Nam ba lần mà không thấy nói đến
Ngủ Hành Sơn. Có lẽ trước đây năm trăm năm núi ấy còn ngoài bể, thấy
đó mà không tới được, dần dần cát bồi, có người đến ở mà núi đó mới
hiện ra.
Khi vua Minh Mạng ngự giá đến đây ban cho tên là Ngủ Hành Sơn, đặt hai
đài Vọng Giang và Vọng Hải. Trên có năm động: Huyền Không, Lăng Hư,
Linh Nham, Vân Thông và Tàng Chân, khắc chữ trên bia đá. Dưới có hai
hàng: Vân Nguyệt và Thiên Long, thắp đuốc đi bộ một dặm lại mở ra một
động nữa, khi đi vào trong khí lạnh buốt xương, từ trước đến nay chưa
ai đến tận cùng. Phải chăng chốn động phước thiên kỳ vỹ còn chờ thánh
nhân chăng?
____________________________________________________________
THƠ VĂN VIẾT VỀ NGÀI
- Bài “ÐIẾU HOÀNG TƯỚNG CÔNG” của Tổng
Ðốc Nam Ðịnh Võ trọng Bình (1882)
(Điếu Tổng Đốc Hoàng Diệu chống Pháp, tuẫn tiết tại thành Hà Nội)
Nguyên tác bằng chữ Hán viết năm 1882,
Bình sinh trung liệt đối thanh thiên
Nhất đáng phi thường thê’ xử nhiên
Chính khí cao tiêu Nùng Lỉnh thượng
U hồn tiềm tại thánh nhan tiền
Quân năng bất phạ Tây dương pháo
Ngã diệc vô dong Phú lãng thuyền
Nguyệt bất đồng sinh quân dử ngã
Anh hùng thành bại nhất tâm kiên.
Bản dịch của Nguyển Quốc Ðịnh:
Lòng trung vằng vặt giữa trời xanh
Cuộc thế xuôi nên một sáng đành
Khí tỏa non Nùng cao chót vót
Hồn chầu bệ ngọc sáng long lanh
Súng Tây bác chẳng hề nao núng
Tàu Pháp tôi nào chịu mỏng manh
Không sống cùng thù tôi bác nguyện
Ðược thua há bận chí hùng anh!
- Bài “ÐIẾU CỤ HOÀNG DIỆU” của Phó Bảng
Nguyễn trọng Tỉnh:
Một tay cầm bút lại cầm binh
Muôn dặm giang sơn chỉ một mình
Phò chúa chuá lo, lo trước chúa
Giữ thành thành mất, mất theo thành
Suối vàng chắc hẳn mài gươm bạc
Máu đỏ âu đành chép sử xanh
Di biểu hảy còn nêu chánh khí
Nghìn năm ghi nhớ bậc hùng anh.
- Trích bài “ÐIẾU TANG ÔNG HOÀNG DIỆU” của các ông
Phan đình Phùng, Trần đình Túc, Nguyễn hữu Ðộ,
Hoàng hữu Thường và Võ Nhự:
Trượng phu hưá thân vì nước,
chỉ hết mình nơi việc đáng làm.
Chí sĩ quyết liệt thành nhân,
há lại sát thân mà tiếc!
Thấy nguy liều mệnh,
thế mới là đáng gọi can trường.
Coi chết như về,
thật rõ rệt trần gian hãn hữu.
- Bài “KÍNH NIỆM CỤ HOÀNG TƯỚNG CÔNG” của bác sỉ kiêm
thi sỉ Thái Can:
Thiết thạch can trường nhất tử trung
Giang sơn hòa lệ khấp anh hùng
Phong vân biến sắc bi hào kiệt
Thaỏ mộc hàm sầu biệt tướng công
Nhất phiến đang tâm chiêu nhật nguyệt
Sổ hàng di biểu liễu tang bồng
Hoành Sơn Trà Lĩnh bi trường tại
Thanh sử tiền đề vọng cổ phong.
Dịch:
Dạ sắt gan đồng một chết trung
Non sông nhòa lệ khóc anh hùng
Gió mây phai sắc thương hào kiệt
Cây cỏ u sầu biệt tướng công
Một tấm lòng son ngời nhật nguyệt
Ðôi dòng di biểu sạch tang bồng
Hoành Sơn, Trà Lĩnh bia còn mãi
Sử sách muôn năm vẫn sắc phong.
- Bài: “HÀ THÀNH CHÍNH KHÍ CA” của Nguyễn
văn Giai (Ba Giai)
Một cơn gió thảm mưa sầu
Nấu nung gan sắc giãi dầu lòng son
Chữ trung đã rắp vuông tròn
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây
Trời cao bể rộng đất dầy
Núi Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi
Thương ôi! Trong buổi lưu ly
Tấc riêng ai cũng thương vì người trung
Rủ nhau tiền góp của chung
Ðưa người ra táng ở thung học đường
Thiết tha nhẽ ngẩn ngơ nhường
Tả tơi thành quách tồi tàn vật nhân
Ngán thay cho cái phong trần
Ngán thay cho kẻ trung thần lắm thay!
Vì ai nên nỗi nước nầy
Ðể người danh tiết biết ngày nào quên
Dãi Nhị Hà cõi giang biên
Trăm năm tiếng tốt để nghìn người coi
Họ Hoàng Tổng Ðốc là ai?
Anh hùng khẳng khái vốn người cõi Nam
Ngồi thành Hà Nội mấy năm
Một phương cõi Bắc ngưả trông thế nào.
____________________________________________________________
Thơ XƯỚNG HỌA: “GƯƠM CHÍNH KHÍ”
- Bài Xướng: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Xuân
Ðài Hoàng Hưng, cháu nội của Hoàng Tướng Công. Bài nầy
do thân phụ tôi viết nhân ngày khánh thành nhà thờ của Ngài tại làng
Xuân Ðài vào ngày 25 tháng 4 năm 1992. Bài thơ nầy được nhiều thi hữu
nồng nhiệt đáp ứng và họa lại. Xin ghi lại đây bài xướng và một số bài
họa tiêu biểu mà thôi.
Gươm lệnh vua trao trấn cõi ngoài
Tình nhà nợ nước triũ hai vai
Trượng phu hưá quốc thân nào tiếc
Chí sĩ lưu phương sử chẳng phai
Lưỡng độ gươm thiên ngời chính khí
Thiên thu di biểu rạng anh tài
Nhiễu điều một dải đền ơn nước
Ðâu thẹn tiền nhân chốn vũ đài.
- Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của Hoàng
Dũng, chắt nội của Hoàng Tướng Công:
Gươm báu vua ban trấn giặc ngoài
Hiếu trung hai chữ trĩu bờ vai
Hy sinh tựu nghĩa bia ghi tạc
Tuẩn quốc thành nhân sử chẳng phai
Di biểu đôi dòng ngời tiết tháo
Non Nùng lưỡng độ rạng anh tài
Kiến nguy thọ mạng đền ơn nước
Oanh liệt vang danh cõi vũ đài.
- Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của Hoàng
Vũ, chắt nội của Hoàng Tướng Công:
Giặc Pháp mưu toan ở cõi ngoài
Ngăn loài Bạch Qủi nặng đôi vai
Tứ bề thọ địch (1) tâm không chuyển
Bốn phiá công thành dạ chẳng phai
Nùng Lĩnh còn thương người nghĩa khí
Nhị Hà mãi tiếc đấng anh tài
Ngàn năm tiết tháo lưu kim cổ
Tổ Quốc vinh danh tạc tượng đài. (2)
(1) Vừa bị quân Pháp bao vây tứ phiá, lại bi nội phản.
Ðiển hình là Án Sát Tôn Thất Bá được Ngài cử ra ngoài thành xem xét
nội tình, đã cam tâm đầu hàng kẻ địch, lại còn cho giặc biết cách bố
trí phòng thủ của quân ta để giặc dễ bề tấn công.
(2) Thành phố Hà Nôi với sự đóng góp tài chánh của con cháu họ Hoàng
đang xúc tiến đúc một tượng đồng của Ngài, không biết đã hoàn thành
chưa.
- Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Hải
Cát:
Tổ quốc lâm nguy giặc lấn ngoài
Làm trai trung hiếu nặng thềm vai
Giang sơn một cõi gan không núng
Khanh tướng đôi bề dạ chẳng phai
Cứu nước gươm thiên xoay trục đất
Quên mình chính khí rạng hiền tài
Tấm gương đại nghĩa ngời thanh sử
Dũng tiết nghìn thu dấu tượng đài
- Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Nguyễn
Khuê:
Như ngọn thần phong cuốn buị ngoài
Trùng trùng sóng hận quyết chen vai
Cưả ô mấy lớp gươm mài bén
Cổ giặc bao hàng gió cuộn phai
Ngời khí ung dung mà tựu nghiã
Rạng gươm khẳng khái để so tài
Dấu xưa còn đó xanh giòng sử
Dải lụa sông Thao ngõ trấn đài.
- Bài họa: “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của nhà thơ Trần
ngọc Liễn:
Vâng lệnh ra đi nhậm xứ ngoài
Lo toan nhiệm vụ chất đôi vai
Tình nhà gác lại thân nào quản
Nợ nước báo đền dạ chẳng phai
Ðất Bắc nêu cao người nghĩa khí
Trời Nam tỏ mặt bậc anh tài
Mất thành tuẫn quốc không hàng giặc
Sử sách lưu danh, lập tượng đài.
Canada, đầu xuân 2003
- Bài Họa “GƯƠM CHÍNH KHÍ” của Vương
Sinh:
Thước gươm chính khí giữ thành ngoài
Nợ nước đong đầy nặng trĩu vai
Bất khuất thề không hàng giặc Pháp
Trung kiên nguyện giữ nghĩa không phai
Danh còn nhắc mãi trang hùng sử
Thành mất thương thay vị tướng tài
Một dải nhiễu điều trung với nước
Cháu con tưởng nhớ lập linh đài.
- Bài Họa: “TỔNG ĐỐC HÒANG DIỆU” của
Sơn Khê:
Hà Thành địch bủa cả trong ngoài
Hoàng Diệu hiên ngang xứng đáng vai
Trí dũng ,lòng son khôn thể chạy
Tâm hùng ,dạ sắt chẳng hề phai
Phất cờ tam đại nêu cao nghĩa
Đánh trống ngũ liên tỏ rõ tài
Vận nước suy vong, thành thất thủ
Dây oan mượn giải xuống tuyền đài
|