|
| Trang Ðầu | Về Hội | Tin Tức | Sinh Hoạt | Lịch Sử | Văn Hóa |
|
17 tháng 6 Vài hàng Tiểu sử: Nguyễn Thái Học sinh năm 1901, người làng Phổ Tang, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú). Khi còn trẻ, theo học trường Cao Đẳng Sư Phạm và Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương ở Hà Nội, ông đã có tinh thần cách mạng, gửi thư cho nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đòi cải cách về Xã hội và chính trị. Năm 1927 ông thành lập Đảng Quốc Dân Việt Nam (Việt Nam Quốc Dân Đảng). Ngày 10 tháng 2 năm 1930, ông tổ chức Tổng Khởi Nghĩa, tấn công Pháp ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Hải Dương, Kiến An...Cuộc tổng nổi dậy thất bại, ông và một số chiến hữu bị bắt tại Cổ Vịt (Đông Triều, Hải Dương) ngày 20 tháng 2 năm 1930. Ngày 17 tháng 6 năm 1930, Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học và 12 Đảng Viên quan trọng Việt Nam Quốc Dân Đảng đã hiên ngang bước lên máy chém của Thực dân Pháp tại Yên Bái, hy sinh đền nợ nước (theoTừ Điển Nhân Vật Lich Sử VN-Nguyễn Q.Thắng & Nguyễn Bá Thế). Cái chết oai hùng của mười ba nhà Cách Mạng Yên Bái được ghi vào Sử xanh, đã nói lên tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, và đã trở thành ngọn đuốc luôn luôn soi sáng chúng ta trên con đường đấu tranh dành Tự do và Dân chủ cho toàn dân Việt Nam. Nhân ngày Kỷ niệm Nguyễn Thái Học và 12 Liệt Sĩ VNQDĐ lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt trân trọng giới thiệu bài biên khảo dưới đây của nhà văn Nguyễn Quý Đại Munich:
Kỷ niệm 13 LIỆT SĨ VNQDÐ lên đoạn
đầu đài Nguyễn Quý Ðại Munich
Phong trào Ðông Du (1905-1908) của Phan Bội Châu (1867-1940) được Tăng Bạt Hổ (1858-1906) giúp đưa du học sinh sang Nhật Bản, nhằm đào tạo giới trẻ khi tốt nghiệp về canh tân đất nước, Phan Bội Châu chủ trương theo chế độ quân chủ, đồng thời nhờ Nhật giúp để đánh Tây... Phong trào Duy Tân (1905-1908) Phan Chu Trinh chủ trương khai trí dân tộc, tân văn hóa đề cao thuyết Dân Quyền, khuyến khích phát triển nông, thương nghiệp cổ động học chữ quốc ngữ. Phong trào được phát động mạnh tại Quảng Nam và được lan rộng trên toàn quốc.Tại Hà Nội trường Ðông Kinh Nghĩa Thục được thành lập từ (1907-1908) Các Phong trào hoạt động chủ trương bất bạo động hoặc bạo động đều với mục đích cứu nước. Nhưng bị thực dân Pháp theo dỏi và đàn áp, bắt các nhà cách mạng đày ra Côn đảo hay kết án tử hình. Mặc dù thực dân Pháp đặt ách thống trị tàn bạo tại Việt Nam, nhưng không thể tiêu diệt được lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam đã tiếp tục chống lại thực dân Pháp thoát vòng nô lệ, bảo vệ đất nước mà tiền nhân bỏ xương máu gây dựng và dành lại Ðộc lập suốt thời gian gần một ngàn năm bị Bắc Thuộc. Cuộc khởi nghĩa ở Huế năm 1916 của Việt Nam Quang Phục Hội chủ trương của Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên (1882-1916) dưới đời vua Duy Tân (1907-1916). Cuộc nổi dậy của Phan Xích Long ở Sài Gòn năm 1913, ở Thái Nguyên do Trịnh Văn Cấn (?-1918) và Lương Ngọc Quyến (1890-1917) mong dành lại độc lập cho toàn dân. Nam Ðồng Thư Xã Năm 1926 Phạm Tuấn Lâm (Dật Công), Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) và Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống) cùng nhau thành lập Nam Ðồng Thi Xã (NÐTX), lúc đầu chủ trương in sách viết về các nhà cánh mạng như Tôn Dật Tiên, Gandhi một thời gian bị cấm sách bị tịch thu, nhưng các nhân vật trong NÐTX tiếp tục hoạt động và vận động lập một đảng cách mạng. Cuối năm 1927 Hồ Văn Mịch (?-1932) Nguyễn Thái Học(1901-1930) gia nhập vào NÐTX chi bộ đầu tiên được thành lập. Nguyễn Thái Học lúc còn trẻ sinh viên theo Cao đẳng Sư phạm và Cao đẳng thương mại Đông Dương ở Hà Nội từng viết thư gởi cho nhà cầm quyền Pháp đòi một số yêu sách cải cách xã hội, chính trị. Năm 1926 ông đề nghị Pháp cải tổ hành chánh nền thuộc điạ, và tôn trọng tự do ngôn luận .Nhưng các đề nghị của Nguyễn Thái Học bị bọn thực dân Pháp không nghe... Nguyễn Thái Học thành lập đảng chính trị chống thực dân Pháp, được bầu làm chi bộ trưởng lấy tên là chi bộ Nam Ðồng Thư Xã. Hoạt động khắp nơi được nhiều người tham gia, Số người gia nhập nhiều, cần mở rộng tổ chức. Nhân dịp lễ Giáng sinh thành phố Hà Nội náo nhiệt người vui chơi Pháp khó kiểm soát. Ðại hội được triệu tập vào lúc 8 giờ tối ngày 25-12-1927 tại nhà ông Lê Thành Vị, làng Thể Giao, Hà Nội. Nhưng giửa buổi họp bị báo động có mật thám theo dõi, đại hội tạm thời giải tán và bí mật di chuyển đến chỗ khác và tái hội lại lúc 2 giờ 30 sáng ngày 26-12 ngay tại trụ sở Nam Ðồng Thư Xã. Ðại hội quyết định thành lập một Ðảng cách mạng lấy tên là Đảng Quốc Dân Việt Nam gọi tắt Quốc Dân Ðảng
Hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Ðảng giống như cách thức của Trung Hoa
Quốc Dân Ðảng mỗi chi bộ 19 người, đại biểu chi bộ họp thành tỉnh bộ,
đại biểu tỉnh bộ họp thành Kỳ bộ .(sau nầy Việt Nam Quốc Dân Ðảng tổ chức
có Thành bộ, tỉnh Ðảng bộ..Cơ quan ngôn luận các tờ báo Hồn nước, Sao
Trắng.. Nhưng sinh hoạt của VNQDÐ không đoàn kết, chia quá nhiều hệ phái.
Nguyễn Thái Học và cờ VNQDÐ chỉ còn ý nghĩa trong những ngày Khởi nghĩa
và Hy sinh...) Nguyễn Thái Học tái đắc cử Nguyễn Thế Nghiệp và Ðặng Ðình Ðiển không
giử chức vụ trong ban chấp hành lo nhiệm vụ khác (Nguyễn Thế Nghiệp vào
Sàigon xuất bản tạp chí Revue Economique hoạt động liên lạc và phát triển
Việt Nam QDÐ. Ðặng Ðình Ðiển vào Huế tháng 10-1928 liên lạc với Phan Bội
Châu thời gian nầy được an trí tại Huế. Mời Phan Bội Châu giữ chức “Chủ
tịch Danh dự VNQDД. Trong cuộc Đại hội toàn quốc lần thứ 3 ngày 09-12-1928 lần nầy bầu ra ba cơ quan độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nguyễn Khắc Nhu đắc cử chức chủ tịch và phó chủ tịch lập pháp. Nguyễn Thế Nghiệp và Lê Xuân Hy đắc cử chủ tịch và phó chủ tịch hành pháp. Ban tư pháp chưa được bầu. Sau khi đại hội kết thúc quyết định mở rộng hoạt động về ngoại giao liên lạc để kết hợp với các Ðảng cách mạng khác, được sự đoàn kết gây sức mạnh hơn, gởi người sang Trung Hoa Nhật Bản hoạt động. Chủ trương của VNQDĐ qua nhiều giai đoạn. Dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân và nô lệ, thành lập chế độ Cộng Hoà Dân Chủ độc lập và tự do... Hoạt động nửa bí mật và công khai, các chi bộ tại Sài Gòn có Ðỗ Xuân Viên, Nguyễn Hòa Hiệp, Nguyễn Phương Thảo, Võ Công Tôn, Nguyễn Hiền Lương, Cao Hữu Tạo, Phạm Xuân Việt, Hà Thuận Hồng và các chi bộ tại miền Ðông và miền Tây Nam Kỳ, trong đó có nhiều người được võ trang vũ khí. Thực dân Pháp truy lùng VNQDÐ Tại Bắc Kỳ sinh hoạt kín đáo phát triển Ðảng viên. Tên trùm René Bazin tổ chức mộ phu, đi làm nô lệ bị bóc lột và hành hạ rất tàn nhẩn. Bazin mướn bồi bút làm thơ để dụ dân quê đi làm đồn điền cao su
Nhiều người bị lường gạt gây thêm lòng phẩn nộ, trước trình trạng nầy đảng viên VNQDÐ cử Nguyễn Văn Viên trình bày lại ý kiến yêu cầu xử tử tên Bazin, với các nhà lãnh đạo Tổng đảng bộ. Nguyễn Thái Học không đồng ý nếu giết Bazin, thực dân Pháp truy lùng tất cả các đảng viên và tổ chức sẽ tan rã (rút kinh nghiệm trong phong trào xin xâu kháng thuế năm 1908 tại Trung Kỳ và vụ đầu độc quân đội Pháp tại Hà Nội Pháp bắt bỏ tù và tử hình). Nguyễn Thái Học yêu cầu các đảng viên bình tĩnh chờ đợi cơ hội lật đổ chính quyền trước, lúc đó bắt Bazin tử hình không muộn. Trong khi đó Việt Nam Thanh niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội rải truyền đơn chống việc buôn bán nô lệ của Bazin, để cạnh tranh hoạt động gây niềm tin phát triển đảng viên. Nguyễn Văn Viên nóng lòng dù đề nghị với Tổng bộ bị từ chối, nhưng ông ta tự ý cùng Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Ðức Lung (Ký Cao) theo dỏi Réne Bazin. Vào 8 giờ tối ngày 30 tết tức 9-2-1929 Réne Bazin ở số 110 phố Huế, chợ Hôm Hà Nội. Nguyễn Văn Viên ra lệnh Nguyễn Ðức Lung đến trao cho Bazin phong thư, trong đựng bản án tử hình, ngoài bì đề tên hãng tàu thủy Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Lân tiến đến bắn hai phát súng kết liểu tên trùm buôn bán phu thợ (Hoàng Ðào sđd tr.55-56). Bazin bị ám sát sau đó thực dân và tay sai truy lùng các đảng Cách Mạng Việt Nam. Máu của đảng viên VNQDÐ đổ ra, bước đường cùng phải phản công chống thực dân. Ngày 17-2-1929 sở mật thám Pháp được các người chỉ điểm bắt khoảng 227 đảng viên VNQDÐ. Hội đồng đề hình quyết xét xử công khai lần đầu ngày 2-7-1929 là 149 người được thả còn lại 78 người phải ra tòa bị kết án tử hình, bị đày ra Côn đảo hay các ngục tù ở Thượng du Bắc Việt. Tổng bộ Nguyễn Thái Học thoát được và sau đó ra lệnh thanh trừng các phần tử phản bội làm tay sai cho Pháp là: Nguyễn Văn Kinh, Phạm Thành Dương, Nguyễn Văn Ngọc.Theo điều lệ mới về tổ chức cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng là “Tổng Bộ Chiến Tranh”. Chương trình hành động trỡ nên gấp rút, phải tổng khởi nghĩa trong thời gian tới, ra lệnh cấp tốc chế tạo thêm vũ khí, tạc đạn, bom.. Nhưng thiếu chuyên viên chế tạo, bất cẩn gây tại nạn phát nổ, mục tiêu bị bại lộ theo thống kê của Pháp từ cuối tháng 10-1929 đến 01-1930 khám phá được 70 địa điểm chôn dấu vũ khí quân nhu trên các tỉnh ở phía Bắc. Không thành công thành nhân Ngày 26-01-1930 tại Võng La một cuộc đại hội bí mật triệu tập khoảng 20 đại biểu tham dự Ðảng trưởng Nguyễn Thái Học tuyên báo:
Cuộc họp sôi nổi nhiều ý kiến tranh luận gay gắt. Nguyễn Khắc Nhu đứng dậy nói bằng giọng đanh thép:
Tổng khởi nghĩa Ðại hội được đa số đồng ý tổng khởi nghĩa, bàn thảo kế hoạch thực hiện ở Hưng Yên, Lâm Thao, Phú Thọ và Yên Bái. Những tỉnh trung du do Nguyễn khắc Nhu chỉ huy, Các tỉnh đồng bằng Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Ðáp Cầu, Phả Lại do Nguyễn Thái Học chỉ huy. Riêng Sơn Tây do Phó Ðức Chính phụ trách, tại Hà Nội do Ðặng Trần Nghiệp tức Ký Con phụ trách đoàn quân cảm tử cầm chân quân Pháp. Ngày khởi nghĩa được chọn là tối mồng 09-02 rạng ngày10-02-1930 tức mồng một Tết âm lịch. Tấn công Yên Bái do Nguyễn Văn Khôi (Thanh Giang) Nguyễn Nhật Thân, Ngô Hải Hoằng (Cai Hoằng) chỉ huy và hai nữ đồng chí Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang tiếp tế vũ khí. Số đảng viên tham chiến khoảng 300 người. Giết được đại úy Jourdain trung úy Robert bốn trung sĩ Pháp. Ðến sáng máy bay Pháp tham chiến nén bom nên phải rút lui để bảo tồn lực lượng. Chuẩn bị đánh Sơn Tây sau khi thất bại ở Yên Bái Phó Ðức Chính trốn về Sơn Tây cùng Cai Tân, Nguyễn Văn Khôi ngày 13-02-1930 họp nhau tại nhà Quản Trạng bị lộ mục tiêu Pháp tấn công bắt tất cả. Tấn công Hưng Hóa và Lâm Thao do Nguyễn Khắc Nhu chỉ huy, lúc 1 giờ sáng 11-02-1930, nhưng Pháp được báo động trước không thể tấn công đồn Hưng Hóa, đổi sang đánh phủ Lâm Thao, quân Pháp được tiếp viện, Nguyễn Khắc Nhu bị thương tự sát bị thương nặng chưa chết bị bắt sau đó tự tử lần thứ 2 chết trong nhà tù Hưng Hóa. Tại Hà Nội không có cuộc tấn công nào, nhưng Ðặng Trần Nghiệp (Ký con) và số đảng viên cắt đường dây điện thoại, ném bom vào một số cơ sở Pháp. Ngày 16-02 Pháp cho phi cơ tới ném 57 trái bom tiêu hủy làng Cổ An. Ngoài ra Pháp mở các cuộc hành quân đốt phá các làng mạc nghi ngờ có sự hoạt động của Việt Nam QDÐ. Cuộc tổng khởi nghĩa tạm chấn dứt. Sau khi cuộc khởi nghiã thất bại, thực dân Pháp trả thù một cách tàn bạo ngày 16.2 Pháp cho 5 máy bay ném 57 qủa bom loại nặng 10 kilo xuống làng Cổ An ở Hải Dương triệt hạ 10 làng khác và giết nhiều người dân vô tội. Trong dân gian truyền tụng bài thơ, cho rằng đó là sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Lãnh tụ Nguyễn Thái Học bị bắt Thực dân và tay sai truy lùng, nhiều đảng viên khuyên Nguyễn Thái Học nên ra nước ngoài một thời gian, làm ngoại giao có lợi cho Ðảng để có ngày phục hưng lại phong trào. Nhưng Nguyễn Thái Học đã nói:
Ðể xúc tiến việc cải tổ và xây dựng lại Ðảng tại làng Thôn Trụ, huyện Lương Tài từ ngày 14 đến 19-02-1930. Sau khi bế mạc hội nghị, các đồng chí đề nghị Nguyễn Thái Học đi về bằng đường thủy, có hộ tống an toàn hơn nhưng công việc gấp đi đường thủy chậm. Anh đi đường bộ ngày 20-02-1930 cùng người cận vệ giỏi vỏ nghệ tên là Sư Trạch quê Hải Dương, đi ngang Chí Linh qua lãnh vực đồn điền Cổ Vịt của tên thực dân Klieber. Chẳng may bị phát giác đối đầu với bọn tuần phu Nguyễn Thái Học bị bắn ở chân không thể chạy thoát, bị bắt đưa đến tòa sứ tỉnh Hải Dương để nhận dạng sau đó đưa về giam ở Hỏa Lò Hà Nội. Nơi nầy Nguyễn Thái Học đã gặp một số tay sai làm việc đắc lực với thực dân Pháp trong đó Tổng đốc Hoàng Trọng Phu (con Hoàng Cao Khải) hỏi Nguyễn Thái Học:
Nguyễn Thái học trả lời:
Các phiên tòa của Hội đồng Ðề hình xét xử liên tục. Khoảng 1000 đảng
viên VNQDÐ bị bắt và kết án 35 tử hình; 145 khổ sai chung thân, 20 năm
tù cấm cố. Ngoài ra còn số người đã hy sinh qua các cuộc tấn công, và
bị tra tấn chết trong tù hoặc tự tử. Ngày 24-03-1930 Hội đồng Ðề hình
tuyên án thêm 39 tử hình, 33 khổ sai chung thân, 9 khổ sai 20 năm, 5 người
bị đi đày.
Riêng Phó Đức Chính không chống án và nói với chánh án :
Bản án trên được Hội đồng đề hình cho Tổng thống Pháp Gaston Doumergue giảm án tử hình từ 39 người bị kết án như đã đề nghị; 26 người ra khổ sai chung thân, chỉ còn lại 13 người y án tử hình. Chiều ngày 16-06-1930 mười ba tử tù được rời hỏa lò Hà Nội chuyển lên Yên Bái. Nguyễn Thái Học vừa đi vừa nói:
Trên đường đi Nguyễn Thái Học vui vẽ không lo sợ trước máy chém đang chờ. Anh vẫn ngâm bài thơ Pháp văn nói lên lòng yêu nước, chết cho Tổ quốc đó là số phận đẹp đẽ nhất...
Lúc 5 giờ sáng 17.06.1930 cùng với 12 đồng chí lên đoạn đầu đài .Nguyễn Thái Học người thứ 13, bị chém đều hô Việt nam Vạn tuế!!! Quan tài của 13 vị Anh Hùng nầy mai táng dưới chân đồi, bên cạnh đền thờ Trần Quán, cách ga Yên Bái độ một km. Ngày hôm sau 18-06-1930 tại ngã ba Bồ Ðề, chỗ rẽ vào làng Phù Tang người vợ của Nguyễn Thái Học chị Nguyễn Thị Giang (?-1930) về thăm thân mẫu Nguyễn Thái Học xong, làm bài thơ trước khi dùng súng lục tự sát, trong lúc chị mang thai được mấy tháng, chị không muốn giặc Pháp bắt làm nhục, người chị ruột là Nguyễn thị Bắc cũng hy sinh cao cả. không khác gì hai Bà Trưng để lại nét son hào hùng của Nữ nhi nước Việt. Nguyễn thị Giang lưu lại bài thơ tuyệt mạng:
Cuộc tổng nổi dậy của VNQDÐ thất bại bị đàn áp tàn bạo hàng trăm người giết, hàng ngàn người bị tù đày, Nguyễn Thái Học và các đồng chí lên đoạn đầu đài, nhưng vụ án Yên Bái tàn khốc nhưng không đè bẹp được tinh thần yêu nước giới trẻ còn khơi động lòng yêu nước, vụ án gây lên ngọn lửa đấu tranh của toàn dân Việt Nam trên khắp nẻo đường đất nước, Phòng trào yêu nước của toàn quân dân Việt Nam cùng đánh bại thực dân Pháp dành lại độc lập cho Việt Nam. Dù chúng ta không phải Đảng Viên VNQĐD nhưng cùng đốt nén nhang để tưởng nhớ đảng Viên VNQĐD đã vì nước vong thân.
13 Liệt Sĩ
Tài liệu Tham Khảo:
|
| ©2003
Hùng Sử Việt |