|
Góp ý về
Nhà Triệu và nước Nam Việt
Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta đều nhận thấy Nhà Triệu (207-111 trước
Tây Lịch) là một triều đại rực rỡ của nước Nam Việt, với cương thổ từ
Đông sang Tây rộng hơn vạn dậm, do Triệu Vũ Đế, tên thật là Triệu Đà thành
lập năm 207 trước Tây Lịch.
Ca tụng sự nghiệp anh hùng của Triệu Vũ Đế, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết:
“Họ Triệu, nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại Tần, chiếm giữ đất
Lĩnh Nam, xưng đế, đòi ngang nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới
mất, cũng là bậc vua anh hùng.”
Niềm hãnh diện này truyền tụng mãi mãi về sau, được Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư nhắc lại: “Vua (Đinh Tiên Hoàng) tài năng sáng suốt hơn người, dũng
cảm mưu lược nhất đời, quét sạch các hùng trưởng (Sứ Quân), tiếp nối quốc
thống của Triệu Vũ (Đế) ...”
Một vị tướng tài nổi danh khắp năm châu như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
Tuấn, lúc sắp qua đời, cũng tỏ ra kính phục Triệu Vũ Đế, trong câu chuyện
sau đây:
“Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh Tông thì xin về trí sĩ ở Vạn
Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhân thấy ngài
bệnh nặng, mới hỏi rằng:” Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân
Bắc lại sang thì làm thế nào?”
Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thủa xưa, Triệu Võ Vương dựng nghiệp,
Hán đế đem binh đến đánh, Võ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để
lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu
Liêm đánh quận Tràng Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời...”
Mở đầu “Bình Ngô Đại Cáo”, nguyên bản bằng chữ Hán, danh thần Nguyễn
Trãi cũng đã trân trọng công nhận Nhà Triệu đứng đầu các Triều Đại chính
thống của nước ta:
“Cái văn: nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân; điếu phạt chi sư, mạc tiên
khử bạo. Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên
chi phong vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu
Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên
nhi các đế nhất phương. Tuy cường nhược thì hữu bất đồng, nhi hào kiệt
thế vị thường phạp”. (Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim, Tập 1, Phụ lục
trang 277).
Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” (Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, nhà Xuất
Bản Khoa Học Xã Hội), dịch ra như sau (tập 2, trang 282):
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Xét
như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến. Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần
nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương. Tuy
mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt không bao giờ thiếu.”
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, cũng đã có ý muốn “đòi về” vùng đất Lưỡng
Quảng, là đất đai nước Nam Việt của nhà Triệu xưa kia:
Trần Trọng Kim (sách đã dẫn, quyển II, trang 143) viết: “...năm Nhâm
Tí (1792) vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại
cho Việt Nam (bấy giờ tên là Đại Việt) đất Lưỡng Quảng.”
Phạm Văn Sơn (sách đã dẫn, trang 563) viết: “Đi xa hơn nữa, năm Nhâm
Tý tức Quang Trung thứ 5, nhà vua bắt đầu thi hành công chuyện nói trên.
Ngài gửi cho bọn biên thần nhà Thanh hai bức thư liên tiếp nhờ đề đạt
lên vua Càn Long ngỏ ý muốn cầu hôn với Công chúa Thanh và đòi đất Lưỡng
Quảng để làm quốc đô.”
Những kẻ hậu sinh chúng ta, mỗi lần nhắc đến “Lưỡng Quảng” tức đất Bách
Việt xưa kia, theo truyền thuyết là nơi lập quốc của Kinh Dương Vương
(khoảng 2879 trước Tây Lịch), truyền ngôi cho Lạc Long Quân, bị Nhà Tần
xâm chiếm năm 214 trước Tây Lịch, nhưng được Triệu Vũ Vương giành lại
năm 207 trước Tây Lịch, dựng lên nền độc lập cho dân tộc Việt gần 100
năm, sau đó bị Nhà Hán thôn tính lấy mất, trong lòng ai chẳng bồi hồi
luyến tiếc?
Chính vua Tự Đức cũng đã ngậm ngùi khi viết lời phê về việc Nhà Hán diệt
Nhà Triệu trong Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (giữa thế kỷ 19)
như sau:
“Xét chung từ trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất
về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền
các triều đại cũng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không
thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết
việc thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những
ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc.”
Trên đây là cách nhìn lịch sử (sử quan) của những nhà viết sử nổi tiếng
và những danh nhân, danh tướng Việt Nam, coi Nhà Triệu và nước Nam Việt
tiếp nối nền chính thống từ thời vua Hùng.
Cách nhìn khác, có lẽ căn cứ trên thực tế cương thổ của nước Việt Nam,
một số nhà viết sử đã có nhận định trái ngược với cách nhìn của những
sử gia trong chính sử: Khởi đầu là sử gia Ngô Thời Sỹ đời Nhà Lê với “Việt
Sử Tiêu Án” và tiếp theo là những nhà viết sử ở trong nước ngày nay. Một
số nhà viết sử ở Hải Ngoại có cùng quan điểm với cách nhìn mới, loại bỏ
Nhà Triệu ra ngoài danh sách những triều đại chính thống. Theo cách nhìn
này, nước Việt Nam bị “Bắc thuộc” (hoặc ngoại thuộc Nhà Triệu) bắt đầu
từ thời Nhà Triệu nắm chính quyền.
Một số dữ kiện lịch sử có thể đã được dùng làm luận cứ cho cách nhìn
này:
- Tượng Quận được coi là vùng đất cổ Việt khác với Nam Hải (Quảng Đông)
và Quế Lâm (Quảng Tây):
“Chuyện Văn Lang và Âu Lạc được xếp vào loại khó tin được, nhưng đến
Tượng Quận thì không còn là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện
lịch sử rõ ràng.
Năm 214 tr. CN (đinh hợi), Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc đánh
lấy đất Lĩnh Nam lập ra các quận Quế Lâm (nay là vùng bắc và đông
Quảng Tây, Trung Hoa), Nam Hải (nay là Quảng Đông, Trung Hoa), và
Tượng Quận (vùng cổ Việt) (Trần Gia Phụng, sách đã
dẫn trang 12).
Ngô Thời Sỹ trong Việt Sử Tiêu Án cũng đã phân biệt rõ ràng: “Than
ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ” (trang
25).
Theo cách nhìn này, biên giới phía Bắc nước cổ Việt với nước Trung
Hoa ở đâu đó vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, khác với biên giới nước Nam
Việt, được vua Hán Cao Tổ công nhận, bắt đầu từ Động Đình Hồ: “Cõi
đất từ Ngũ Lĩnh về nam, vương (Triệu Đà) cứ việc trị lấy” (ĐVSKTT
trang 144).
- Văn Lang chia thành 15 “bộ”, không có “bộ” nào ở Lưỡng Quảng, mà
chỉ giới hạn trong vùng đất Bắc Việt và vài tỉnh phía Bắc Trung Việt
ngày nay.
- Triệu Đà là người gốc phương Bắc, và kinh đô nước Nam Việt ở Phiên
Ngung (Quảng Đông), không ở Bắc Việt ngày nay.
- Quan trọng nhất là nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm chiếm đã được ghi
rõ trong sách sử: “Canh Thân, năm thứ 27 (181 TCN), (Hán Cao Hậu năm
thứ 7). Nhà Hán sai Lâm Lư hầu, Chu Táo sang đánh Nam Việt để báo thù
việc đánh Trường Sa. Gặp khi nắng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bèn bãi
quân, Vua (Triệu Vũ Đế) nhân thể dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ
Mân Việt và Âu Lạc ở phía Tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân) các nơi
ấy đều theo về). (ĐVSKTT, trang 143)
Cách nhìn lịch sử căn cứ vào thực tế cương thổ nước Việt Nam, mở ra một
phương pháp suy luận mới, có vẻ thực tế khách quan.
Tuy nhiên cách nhìn này đã vấp phải sự nhận diện sai lạc và sự di dịch
biên giới cổ Việt qua các thời đại, cũng như sự phân biệt và kỳ thị có
tính cách địa phương (theo Trương Thái Du, là “tính nhất thời, trong cái
nhìn địa phương hãn hữu” - Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch
sử Việt Nam – 2005 talawas), vì thế làm mất hẳn đi tính thuyết phục:
-
Thuyết coi Tượng Quận là đất cổ Việt, thuộc
về phần đất Bắc Việt ngày nay, đã bị phê phán: “Tượng Quận:
tên quận đời Tần mà trước đây nhiều sách sử của ta và của Trung Quốc
đều chú giải là quận Nhật Nam, hay bao gồm cả ba quận Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam. Thuyết đó là dựa vào một
câu cước chú của Hán thư (q.28 hạ, tr. 11a) về quận Nhật Nam thờ Hán:
Quận Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày trước”. Nhưng từ cuối thế
kỷ XIX thuyết đó đã bị phê phán. Chính Hán Thư phần Bản Kỷ (q. 7 tr.
9a) chép rõ ràng: “Năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương (76 TCN), bãi bỏ quận
Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”. (Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư, trang 138).
Bản đồ nước Nam Việt (Trần Việt Bắc vẽ).Chú ý sẽ thấy
Tượng Quận ở phía trên Tây Âu, gần Tường Kha.
Quận Uất Lâm ở vùng đất thuộc Quảng Tây, quận Tường Kha ở phía tây
quận Uất Lâm và gồm một phần Quý Châu. Vậy Tượng Quận thuộc về miền
tây Quảng Tây và nam Quý Châu.
Nhìn nhận Tượng Quận là đất cổ Việt, ắt phải nhìn nhận Quảng Tây là
cổ Việt? Chưa kể, thời Hai Bà Trưng có quận Hợp Phố thuộc về tỉnh Quảng
Đông ngày nay theo về, làm cho biên giới nước cổ Việt mở rộng, ăn sâu
vào tỉnh Quảng Đông. Biên giới nước Việt Nam ngày nay cũng đã thay đổi:
thời Hồ Quí Ly mất cho Trung Hoa vùng đất Lộc Châu gồm 59 thôn ở Cổ
Lâu (năm 1405), thời Mạc Đăng Dung mất 5 động Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Xung,
Liễu Cát, La Phù và đất Khâm Châu (năm 1540) và thời Cộng Sản gần đây
(năm 1999) mất thêm đất vùng biên giới Hoa Việt từ Ải Nam Quan (Lạng
Sơn) qua vùng đất có Thác Bản Giốc Cao Bằng, cũng như lãnh hải và các
đảo Hoàng Sa, Trường Sa (?).
- Còn về thuyết Văn Lang được chia ra làm 15 bộ để cai trị,
cũng đã bị phê phán về tính xác thực. Học giả Lê Quí Đôn (1726-1784)
trong Văn đài loại ngữ đã nhận xét : “...Tôi xét đời Hùng Vương, trên
nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra
thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới
đặt ra, tên gọi lẫn lộn, tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp
nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được...” (Trần Gia Phụng, sách đã
dẫn trang 11, 12).
Cũng nên biết rằng ý niệm thống nhất đất đai chư hầu thành một nước
để chia ra từng bộ phận, quận huyện mà cai trị, chỉ bắt đầu xuất hiện
bên trung Hoa từ thời nhà Tần (356 tr. TL) trở về sau (do chính sách
của Tướng quốc Thương Ưởng, sau đó được Tần Thủy Hoàng củng cố mạnh
mẽ hơn nhờ Tể Tướng Lý Tư soạn ra tân chính sách). Vì vậy, nếu cho
rằng ý niệm “thống nhất đất đai” đã xẩy ra ở cổ Việt trước thời Tần
Thủy Hoàng xâm lăng đất Bách Việt, thì quả thật đáng để chúng ta suy
nghĩ về tính xác thực của nó. Hơn nữa chính “đất Bách Việt” trước
khi bị Nhà Tần xâm lăng, theo truyền thuyết thuộc về Văn Lang là đất
đai của vua Hùng. Nhà Tần chia đất Bách Việt ra thành 3 quận Nam Hải
(Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và Tượng Quận (theo thuyết mới
thuộc về Quảng Tây). Có lẽ Tượng Quận bao gồm phần đất bản bộ của
Thục Phán tại Quảng Tây, trước khi đánh chíếm nước Văn Lang (?).
- Chúng ta cũng cần suy nghĩ về quan niệm cho rằng Triệu Đà
là người phương Bắc và kinh đô Nhà Triệu ở Phiên Ngung, không
nằm trong đất Bắc Việt ngày nay, rồi kết luận “Nước Nam Việt là một
nước phương Bắc, đô hộ nước Âu Lạc (Bắc Việt)”.
Bởi vì nước ta có nhiều ông vua gốc phương Bắc như Thục An Dương Vương,
Lý Nam Đế, Hồ Quí Ly, Quang Trung Nguyễn Huệ, nhưng vẫn được dân tộc
Việt công nhận là những ông vua Việt Nam có tài và có công. Còn về Kinh
đô của một nước, thường tùy thuộc vào diện tích đất đai và cách tổ chức
chính trị của nước đó. Thí dụ khi Việt Nam còn giới hạn ở miền Bắc và
mấy tỉnh miền Trung, thì kinh đô của các Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý,
Trần, Lê đều đặt ở miền Bắc (Hoa Lư hoặc Thăng Long). Nhưng khi lãnh
thổ mở rộng về phương Nam đến mũi Cà Mâu, thì kinh đô của vua Quang
Trung hay vua Gia Long đều dời về ở miền Trung (Phú Xuân, Huế). Giả
thử Thục An Dương Vương khi chiếm đất của các vị vua Hùng, có đất bản
bộ là vùng Lưỡng Quảng rộng lớn, tất cũng phải đặt kinh đô trên đất
Lưỡng Quảng vậy. Sau này, vua Quang Trung Nguyễn Huệ cũng đã có ý định
“đòi đất Lưỡng Quảng để làm quốc đô” (Phạm Văn Sơn sách đã dẫn trang
563).
Sử gia Ngô Thời Sỹ khi viết về đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây)
cũng cho rằng: “ đất Bách Việt là đất cổ Việt (?): “Nhà Tần cho là nước
Việt ta nhiều châu báu, muốn chia nước ta ra làm quận huyện, sai Hiệu
Úy Đồ Thư mang quân vào sâu mãi Lĩnh Nam lấy đất Lục Lương đặt ra Quế
Lâm, Nam Hải, Tượng Quận. Người Việt ta đều chạy trốn vào trong rừng
rậm, không chịu để cho nhà Tần dùng, ngầm đặt Kiệt Tuấn làm tướng, đương
đêm đánh Đồ Thư, nhà Tần bèn mang 500 vạn (5 triệu) (?) dân phát vãng
đi đầy sang ở đó. ...”. (sách đã dẫn trang 24). Theo Trần Trọng Kim,
Nhà Tần sai Đồ Thư sang đánh Bách Việt ở “vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng
Đông và Quảng Tây bây giờ” (sách đã dẫn trang 18). Phải chăng, nhóm
từ “nước Việt ta”, “nước ta”, “người Việt ta” trong Việt Sử Tiêu Án
đã mặc nhiên thừa nhận dân tộc Bách Việt chính là dân tộc Cổ Việt? Tương
tự, một cách khách quan sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư cũng
công nhận người Việt Nam và người Nam Việt chỉ là một(?): “Với Triệu
Đà ta thấy xã hội Việt Nam bắt đầu tiến do sự phát triển về nông nghiệp...Triệu
Đà đã thúc đẩy dân tộc Việt Nam lên một bước đáng kể”, hoặc: “Sự tiến
hóa về các phương diện trên đây tuy còn ít ỏi nhưng cũng đã làm nảy
nở ít nhiều ý thức quốc gia của người Việt”. (sách đã dẫn, trang 90).
- Căn cứ vào dữ kiện lịch sử “Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc”
tức đất Bắc Việt ngày nay, để cho rằng nước ta ngoại thuộc Nhà Triệu
hay “Bắc thuộc”, không phải là không có duyên cớ. Tuy nhiên, bảo rằng
lãnh thổ của Âu Lạc là lãnh thổ của Văn Lang (trong truyền thuyết) lại
là một nghi vấn lịch sử? Chính “ Lời Thông Luận” cũng đã tỏ ra ngạc
nhiên: “An Dương Vương khởi từ đất Ba Thục, thừa lúc họ Hùng-Lạc đã
suy, một trận cử binh mà lấy được nước cũ hơn hai nghìn năm, sao mà
hùng cường thế”. (Ngô Thời Sỹ, sách đã dẫn trang 25). Để có thể nhận
xét một cách khách quan, chúng ta cần tìm hiểu và xét lại 2 vấn đề sau
đây:
- Thục Phán là người Phương Bắc (gốc nước Thục, mà ta quen gọi
là người Tàu), đánh bại vua Hùng Vương thứ 18, chiếm kinh đô vua
Hùng ở Phong Châu (Vĩnh Yên, nay là tỉnh Phú Thọ), nhưng có chiếm
được hết đất đai của vua Hùng theo truyền thuyết hay không?
Với thời gian trị vì của Thục An Dương Vương không quá 50 năm trong
1 đời vua, Thục An Dương Vương đã có thể thu phục được bao nhiêu
phần trăm “nhân tâm” của những quan Lạc Tướng, Lạc Hầu, và nhất
là của dân tộc Việt “cắt tóc vẽ mình” từng là con dân vua Hùng hàng
ngàn năm rồi? Số dân chúng còn luyến tiếc thời vua Hùng, không chịu
khuất phục “chế độ mới” là bao nhiêu?
- Dân tộc Bách Việt “ cắt tóc vẽ mình” cùng một tổ tiên với dân
tộc Lạc Việt sống rải rác từ Động Đình Hồ (tức vùng đất Quảng Đông,
Quảng Tây) tới Âu Lạc (Bắc Việt ngày nay), trước khi Tần xâm lăng
Bách Việt, thuộc về nước nào? vua nào? nếu không phải là nước Văn
Lang của vua Hùng? Khi Hán Cao Tổ chiếm trọn đất đai phía Bắc Ngũ
Lĩnh (Động Đình Hồ), Triệu Vũ Đế hầu như chiếm trọn đất đai phía
Nam Động Đình Hồ. Vua Hán dùng ngoại giao để thu phục Nhà Triệu
và phong Vương cho Triệu Đà không hề đả động gì đến nước Văn Lang,
hay Âu Lạc, mà chỉ biết Nam Việt là một nước duy nhất ở phương Nam
“thần phục” Nhà Hán” (khác với “lệ thuộc” Nhà Hán, vì đây chỉ là
một hình thức ngoại giao, Nam Việt vẫn giữ được nền tự chủ).
Để biết rõ thêm về Nhà Triệu và nước Nam Việt, chúng ta cùng tìm hiểu
mấy câu hỏi sau đây:
- Triệu Đà là ai? Vợ con Triệu Đà và thân tín của Triệu Đà
là ai? Triệu Đà đến nước Cổ Việt từ bao giờ?
- Vua quan triều đình nước Nam Việt là ai?
- Dân tộc nước Nam Việt là ai?
- Triệu Đà đã làm được những điều gì ích lợi cho nước Việt
Nam ta thời xưa?
Đỉnh trong mộ Vua Nam Việt đời thứ 2 – 122 BC (tức Triệu
Văn Vương - 137-125 BC)
(Một Thế Kỷ Khảo Cổ Việt Nam Tập II)
- Triệu Đà là ai?
Mặc dù thời đại Triệu Đà đã có chữ viết, nhưng sử sách chép về tiểu
sử Triệu Đà lại rất sơ sài. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết: “Họ Triệu,
tên húy là Đà, người huyện Chân Định nước Hán, đóng đô ở Phiên Ngung
(nay ở tỉnh Quảng Đông)...”. Trần Trọng Kim trong “Việt Nam Sử Lược”
chú trọng nhiều đến việc thành lập nước Nam Việt: “Năm Quí tị (207 tr.
TL), Triệu Đà đánh được An Dương Vương rồi, sáp nhập nước Âu Lạc vào
quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, tức
là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ”, và
cho biết thêm: “Năm Giáp Thìn (137 trước Tây Lịch), Triệu Vũ Vương mất.
Sử chép rằng ngài thọ được 121 tuổi và làm vua được 70 năm”.
Vợ con Triệu Đà là ai?
Ngô Thời Sỹ không nói gì đến tiểu sử của Triệu Đà, nhưng lại cung cấp
một dữ kiện quí báu, đó là thân thế của bà vợ người Việt của Triệu Vũ
Đế: “Theo sách ngoại sử: Mẹ Trọng Thủy là Trình Thị, người làng Đường
Xâm, quận Giao Chỉ , (nay làng Đường Xâm, huyện Chân Định), nơi có miếu
thờ Triệu Đà, Trình Thị được tòng tự ở miếu ấy”. (trang 24, sách đã
dẫn)
Triệu Đà đến nước Cổ Việt từ bao giờ?
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Việt Sử Tiêu Án đều chép: “Triệu Đà làm quan
lệnh Long Xuyên”, nhưng không cho biết Triệu Đà được vua Tần sai phái
sang nước Nam từ bao giờ? Căn cứ vào bức thư của Triệu Đà viết gửi Hán
Văn Đế (năm 179 trước Tây Lịch), có câu: “Lão phu ở đất Việt 49 năm,
đến nay đã ẵm cháu rồi” (Ngô Thời Sỹ, sách đã dẫn trang 27), suy ra
Triệu Đà đến đất cổ Việt vào năm 228 trước Tây Lịch, đúng vào thời gian
nước Triệu bị Nhà Tần diệt (228 tr. TL), 14 năm trước khi Tần Thủy Hoàng
sai tướng Đồ Thư đem quân đánh lấy Bách Việt. Trong cuốn “Sổ Tay Địa
Danh Việt Nam”, Đinh Xuân Vịnh cho biết thêm: “CHÂN ĐỊNH: huyện về đời
Lê thuộc phường Kiến Xương do phủ kiêm lị, trấn Sơn Nam . Nguyên là
huyện Chân Lợi, đời Lê vì kị húy vua Lê Thái Tổ, nên đổi là Chân Định,
lấy tên là huyện quê hương Triệu Đà ở nước Triệu bên Trung Quốc. Đà
có người vợ người Việt quê ở làng Đồng Sâm (Đường Xâm?), huyện Chân
Định. Đời Thành Thái vì kị húy tên vua Dục Đức là Ưng Chân, đổi là Trực
Định và chuyển thuộc tỉnh Thái Bình mới thành lập (1894), từ năm 1945
là huyện Kiến Xương. Quê Nguyễn Quang Bích, Trương Quỳnh Như”.
Nhờ vào những dữ kiện lịch sử kể trên, chúng ta có thể suy diễn: “Triệu
Đà sinh năm 258 tr. TL, quê huyện Chân Định nước Triệu (bị Nhà Tần diệt
vào năm 228 tr. T.L), lúc đó Triệu Đà vừa 30 tuổi, phải bỏ nước chạy
sang Giao Chỉ “tị nạn”. Tại Giao Chỉ, Triệu Đà kết hôn với một cô gái
người Việt quê làng Đường Xâm (sau thuộc tỉnh Thái Bình, Bắc Việt).
Vợ chồng Triệu Đà sinh ra Trọng Thủy. Sau Trọng Thủy kết duyên với Mỵ
Châu, con gái An Dương Vương, sinh được một trai đặt tên là Hồ (Triệu
Hồ được truyền ngôi lên làm vua nước Nam Việt năm 137 tr. TL). Trong
suốt thời gian 14 năm sống trên đất Việt và thời gian 70 năm làm vua
nước Việt sau này, Triệu Đà đã nhiễm phong tục tập quán của người Việt,
đồng hóa với người Việt, yêu thương văn hóa Việt và quyết tâm bảo vệ
và gìn giữ nền Văn Hóa cổ Việt, ngăn cản không cho Văn Hóa người Hán
tràn vào Nam Việt.
Nhận xét một cách vô tư, sử gia Phạm Cao Dương viết: “Triệu Đà mặc dầu
gốc miền Bắc, nhưng vì xuống ở miền Nam lâu ngày đã bị đồng hóa bởi
người Nam Việt, chấp nhận các phong tục tập quán của người Nam Việt
đến độ quên hết quá khứ của mình, đúng như Lê Thành Khôi đã nhận xét”
(trang 71 sách đã dẫn).
Chính sử gia Ngô Thời Sỹ cũng đã nhận xét: “Còn về phần giáo hóa , phong
tục (Triệu Đà) không để ý đến một chút nào.” (sách đã dẫn, trang 34).
Sử gia Phạm Văn Sơn cũng viết: “ Giao Chỉ vẫn giữ được đầy đủ các cá
tính quốc gia, tinh thần cố hữu của nó. Lại nhân cuộc thay trò đổi cảnh
hai xứ này (Giao Chỉ, Cửu Chân?) được thêm sự mở mang kinh tế và chấn
hưng nông nghiệp. (sách đã dẫn, trang 86 & 87). Thật may mắn cho
dân tộc Lạc Việt, nhờ Triệu Đà không để ý thay đổi phong tục tập quán
cổ truyền của người Việt theo phong tục phương Bắc, nên dân tộc ta mới
không bị Hán hóa ngay từ thời Nhà Triệu! Đây chính là công lao rất lớn
của Triệu Vũ Đế vậy.
Có lẽ Triệu Đà qua Giao Chỉ “tị nạn”, chỉ có một thân một mình, căn
cứ vào lời lẽ của Lục Dận nói với Triệu Vũ Vương: “Vương vốn là người
Hán, họ hàng mồ mả đều ở nước Hán”, hoặc căn cứ vào sự giao thiệp với
Hán Văn đế: “Vua Hán vì thấy mồ mả tổ tiên của vua (Triệu Đà) đều ở
Chân Định, mới đặt người thủ áp để trông coi, tuế thời cúng tế, gọi
các anh em của vua cho làm quan to, ban cho hậu”. Trong bức thư gửi
Triệu Vũ Vương, vua Hán Văn Đế nói rõ: “Mới rồi nghe nói Vương có gửi
thư cho tướng quân Lâm Lư hầu muốn tìm anh em thân và xin bãi chức hai
tướng quân ở Trường Sa. Trẫm theo thư của Vương, đã bãi chức tướng quân
Bác Dương hầu rồi, còn anh em thân của Vương hiện ở Chân Định, trẫm
đã sai người đến thăm hỏi và sửa đắp phần mộ tiên nhân của Vương rồi”.
(ĐVSKTT, trang 142-145). Như vậy, phải chăng anh em, họ hàng, thân thích
cũ của Triệu Đà đã bị Nhà Hán giam lỏng, hoặc dùng chức tước để cầm
chân, không cho rời khỏi nước Hán để đến nước Nam Việt?
- Vua quan triều đình nước Nam Việt là ai? Như trên
vừa kể, những người thân tín của Triệu Đà trấn đóng khắp nơi và làm
quan trong triều không phải là họ hàng, thân thích hay anh em của nhà
vua (nếu có cũng rất ít). Vậy họ là ai? Có phải là người Tần không?
Có phải là người Hán (người Tàu) không? Triệu Đà sống ở Giao Chỉ lâu
ngày, lấy vợ Việt, ắt có rất nhiều bạn bè người Việt. Sau Triệu Đà làm
quan cho nhà Tần tới chức Lệnh huyện tại Long Xuyên (đất Bách Việt),
có thể đã kết hợp với người Bách Việt (Lạc Việt, Âu Việt...), giết hết
trưởng lại Nhà Tần, để thay bằng thân tín là những người Việt. Lữ Gia
và họ hàng thân thích hàng trăm người làm quan to trong triều, đều là
người Việt: “Con trai đều lấy công chúa, con gái đều gả cho con em của
vua hay tông thất của vua” (Phạm Cao Dương, sách đã dẫn trang 68). Một
triều đình nước Nam Việt với quan, dân đều là người Việt “cắt tóc vẽ
mình” như vậy mà nhà viết sử lại cho rằng nước Nam Việt là... nước Tàu,
thì chỉ có thể giải thích bằng “đầu óc kỳ thị địa phương” kiểu người
miền Nam Việt Nam tự nhận là “dân Nam Kỳ Quốc” để phân biệt với người
miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc mà thôi! Về nhận xét có sự
phân biệt “kỳ thị địa phương” thời Nhà Triệu, chính sử gia Phạm Văn
Sơn cũng đã bác bỏ: “Và tuy sử sách không nói nhiều về việc cai trị
dưới thời Triệu Đà hay dở thế nào ở đất Giao Chỉ, nhưng ta tin chắc
rằng họ Triệu đã đối đãi dân Giao Chỉ không khác gì với nhân dân hai
quận Quế Lâm , Nam Hải” (sách đã dẫn, trang 87).
Các vị vua Nam Việt nối ngôi sau này như Triệu Văn Vương, Triệu Minh
Vương... đều mang dòng máu Việt.
- Dân tộc nước Nam Việt là ai? Theo định nghĩa: “Bách
Việt: là từ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống
ở miền nam Trung Quốc thời xưa. Từ này lần đầu tiên thấy chép trong
Sử Ký (Ngô Khởi truyện) của Tư Mã Thiên (Đại Việt Sử Ký Toàn thư, trang
131). Học giả Đào Duy Anh cũng xác nhận: “Chúng ta đều biết rằng người
nước Văn Lang là người Lạc Việt, lại cũng biết rằng nhóm Việt tộc sinh
tụ ở miền Quảng Tây, tức trong lưu vực sông Tây giang với hai nhánh
của nó là Tả giang và Hữu giang, là người Tây Âu”. (sách đã dẫn trang
26). Sử gia Phạm Văn Sơn cũng cho biết:” Còn cương vực của nước Văn
Lang phía Bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam), phía Tây giáp Ba Thục
(tỉnh Tứ Xuyên) phía Nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Đông giáp bể
nam hải, là cương vực cổ xưa của toàn thể gia đình Bách Việt” (sách
đã dẫn trang 51). Theo chúng tôi nghĩ, cho tới khi Nhà Tần xâm lăng
Bách Việt, Tổ Tiên người Lạc Việt của nước Văn Lang vẫn sinh sống tại
Bách Việt, mặc dù có một số dân chúng tiếp tục “di cư dần xuống lưu
vực sông Nhị và sông Mã” (Phạm Văn Sơn), vì khó có thể xẩy ra chuyện
cả một dân tộc dời bỏ quê hương, nơi “chôn nhau cắt rốn” ra đi hết không
còn một ai ở lại? Như vậy, Dân tộc nước Nam Việt bao gồm thành phần
người Bách Việt trong đó có người Lạc Việt và Âu Việt, tức là người
cổ Việt, (mang dòng máu Việt), lẫn với một số người Tàu khi nhà Tần
mang theo sang xâm chiếm Bách Việt, và những dân tộc thiểu số khác.
Đào Duy Anh cho biết: “ Sách Lộ Sử ở đời Tống chép rằng: Việt
Thường , Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung
Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương,
Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn,
Kê Từ, Bộc Cầu, Tỷ Đái, (sửa là Bắc Đái), Khu Ngô, gọi là Bách
Việt”. (Đất Nước Việt Nam qua Các Đời, trang 21). Như vậy dân
chúng nước Nam Việt có thành phần quan trọng là người Việt cổ.
Hoài Nam Vương (Lưu) An khi dâng sớ can ngăn vua Hán đừng can thiệp
vào cuộc chiến tranh giữa Nam Việt và Mân Việt, cũng đã minh xác: “Việt
là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước
đội mũ mang đai mà trị được” (ĐVSKTT, trang 147). Bàn về phong tục người
Việt Cổ (Giao Chỉ, Bách Việt), Lê Tắc trong An Nam Chí Lược viết: “Dân
(Việt) hay vẽ mình, bắt chước tục lệ của hai nước Ngô, Việt. Vì thế,
Liễu Tư Hậu có câu thơ rằng “Cộng lai Bách Việt văn thân địa”, nghĩa
là cùng đi tới đất Bách Việt là xứ người vẽ mình”.(Sách đã dẫn trang
70)
Tóm lại, nước Nam Việt bao gồm đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng
Tây ngày nay) và nước Âu Lạc (Bắc Việt và vài tỉnh miền Trung ngày nay),
dân chúng là người Việt chiếm đa số, được cai trị bởi Triệu Vũ Đế, người
gốc phương Bắc nhưng đã thấm nhuần phong tục, tập quán người Việt, truyền
ngôi cho cháu chắt đều mang dòng máu Việt và các quan trong triều đình
Nam Việt đều là người Việt.
- Triệu Vũ Đế đã làm được gì ích lợi cho nước ta xưa kia?
Sử gia Phạm Cao Dương viết: “...sự thành lập nước Nam Việt bởi họ Triệu,
đã khởi đầu cho sự hấp thụ văn hóa Trung Quốc của tập thể người Việt”
(sách đã dẫn trang 70).
Hũ Đồng thời Tây Hán: (10) Hũ thời chiến Quốc (200
BC – 9AD – Thanh Hóa VN),
Nguồn: Một Thế Kỷ Khảo Cổ Học VN/ Nha XB KH XH.
Sử gia Phạm Văn Sơn viết: “Với Triệu Đà ta thấy xã hội Việt Nam bắt đầu
tiến do sự phát triển về nông nghiệp nhờ sự cải thiện của nghệ thuật canh
tác trước đây còn quá thô sơ (Nghề săn bắn, chài lưới bấy giờ vẫn còn
thịnh). Họ Triệu nhập cảng lưỡi cầy sắt để thay cho lưỡi cuốc bằng đá
trau, cho dùng trâu bò thay vào sức người, đem gia súc từ Tàu qua để mở
mang việc chăn nuôi, nhờ vậy mà sinh sản lượng tăng gia gấp bội; sự phát
triển về văn hóa, chính trị, quân sự cũng do cái bản lĩnh hơn người của
họ Triệu đã thúc đẩy dân tộc Việt Nam lên một bước đáng kể, nếu ta nhớ
rằng dưới đời Hồng Bàng người Việt Nam vẫn chưa thoát ly hẳn tình trạng
bán khai, mọi điều còn ở trình độ rất thấp kém trước khi nước ta nội thuộc
về phương Bắc.
Sự tiến hóa về các phương diện trên đây tuy còn ít ỏi nhưng cũng đã làm
nẩy nở ít nhiều ý thức quốc gia của người Việt , nhất là sau những cuộc
xô sát bằng quân sự và ngoại giao với Hán triều trong thời Lã Hậu cầm
quyền. Ý thức quốc gia còn nẩy nở trong những giai đoạn người Việt độc
lập, tự chủ và tự cường nữa. Tóm lại, ta có thể nhìn nhận người
cầm cái mốc đầu tiên trên đường tiến hóa của chúng ta là tướng Triệu Đà...”
Nên nhớ rằng thời đại Nhà Triệu chính là thời đại “văn hoá Đông
Sơn” được tiếp tục tồn tại và phát triển tại Việt Nam: “Từ đầu
thế kỷ II trước Công nguyên đến đầu thế kỷ I sau Công nguyên (giai đoạn
thuộc Triệu và Tây Hán). Đây là thời kỳ tiếp tục phát triển thời đại sắt
Việt Nam, và bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Hán, đã dẫn đến sự dung hợp
văn hóa Hán-Việt. Về mặt di tích, đây chính là thời kỳ mà văn hóa Đông
Sơn vẫn phát triển và vẫn là yếu tố chủ đạo trong văn hóa.” (Phạm Như
Hổ, Một thế kỷ Khảo Cổ Học Việt Nam tập II, trang 12).
Bách Việt & Âu Lạc (Trích VNSL – Trần Trọng Kim)
Nhận xét về thời Hán thuộc dưới quyền đô hộ của các Thái Thú Tích Quang
và Nhâm Diên (năm 29 sau T.C, tức vào khoảng 140 năm sau thời kỳ độc lập
của Nhà Triệu đối với Nhà Hán), sử gia Phạm Cao Dương viết: “...một nhận
định khác liên hệ tới sinh hoạt kinh tế cũng cần phải được nêu lên. Đó
là sự phát triển kinh tế của quận Giao Chỉ vào cuối thời Tây Hán khi Nhâm
Diên là Thái Thú Cửu Chân: dân Cửu chân đã có thể sang đong thóc ở Giao
Chỉ”. (sách đã dẫn trang 83). Bàn về trường hợp Thái Thú Nhâm Diên quận
Cửu Chân “sai rèn đúc đồ làm ruộng, dạy dân khai khẩn mở mang đất đai”,
Phạm Cao Dương viết: “Sự kiện này (sự kiện Nhâm Diên là người đầu tiên
dạy dân ta cày cấy với nông cụ bằng sắt) trái ngược với những gì người
ta tìm được trong các cuộc phát quật ở Đông Sơn (cùng thời Nhà Triệu),
vì trong các cuộc phát quật này người ta đã tìm thấy những đồ làm ruộng
như lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi rìu...” (sách đã dẫn trang 83).
Trên đây là những nhận xét khách quan và thành thật của các sử gia. Bên
cạnh đó, không thể tránh được những lời nhận xét mang tính chủ quan và
địa phương
Kết luận:
Tìm hiểu về lịch sử một triều đại, có nhiều cách nhìn. Trong mỗi cách
nhìn, thường dựa trên một số dữ kiện lịch sử khách quan để dùng làm căn
bản lý luận. Đối với sách sử cũ (ngoại trừ Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời
Sỹ) đa số đều công nhận Nhà Triệu với nước Nam Việt là một triều đại chính
thống nối tiếp vua Hùng. Nhiều vị Anh hùng, Danh nhân, Danh tướng Việt
Nam cùng kính phục Triệu Vũ Đế và coi đất Bách Việt (Lưỡng Quảng) là đất
đai của Tổ Tiên đã bị Nhà Hán thôn tính lấy mất. Truyền thuyết về Kinh
Dương Vương dựng nước ở đất Bách Việt, cũng như sự nhìn nhận của Nhà Tây
Hán qua thể thức “phong vương” cho Triệu Đà là những bằng chứng lịch sử
để tin tưởng.
Gần đây, nhiều nhà viết sử ở trong nước đã dựa theo “Việt Sử Tiêu Án”
của Ngô Thời Sỹ, viết về Nhà Triệu trái ngược với sử cũ, coi nước Việt
Nam bị Bắc thuộc (nội thuộc nước Tàu?) hoặc ngoại thuộc Nhà Triệu từ khi
Triệu Vũ Vương dựng nước Nam Việt. Một số sử gia ở Hải Ngoại cũng có cùng
quan điểm như vậy.
Một cách đơn giản hơn, là nhìn thẳng vào chính quyền, dân chúng và lãnh
thổ của một nước, để tìm hiểu xem đất nước ấy có bị một nước nào đô hộ
hay không? Nếu không, tính chính thống coi như được tiếp nối. Đối với
nước cổ Việt, thời đại vua Hùng, chưa có ý niệm về thống nhất đất đai
chư hầu để chia thành quận huyện cai trị như thời nhà Tần bên Tàu, nên
ta có thể chấp nhận: “Nơi nào có dân tộc cổ Việt tập trung sinh sống đông
đảo mà không bị lệ thuộc vào nước nào thì nơi đó chính là quê hương, tổ
quốc của dân tộc cổ Việt”. Từ nhận xét này, suy ra đất Bách Việt là đất
đai quê hương và Tổ quốc của người Lạc Việt và Âu Việt, tức là người Việt
Nam thời cổ .
Điều đáng suy nghĩ là người Hán thôn tính các nước láng giềng đều coi
dân tộc các nước bị diệt là người ... Trung Hoa, trong khi cùng là người
Việt, nhưng vì địa phương tính, lại coi nhau như người khác nước!
“Nhà Triệu và Nước Nam Việt” là một đề tài lịch sử quan trọng, cần được
tìm hiểu cặn kẽ, vô tư và khoa học khách quan để tôn trọng những trước
tác sách sử mang tâm huyết hào hùng của tiền nhân, nhất là để không phụ
công ơn dựng nước và giữ nước của Tổ Tiên. Đánh giá một nhân vật lịch
sử là một việc làm cẩn trọng, và trách nhiệm nặng nề của những nhà viết
sử, vì việc làm này sẽ ảnh hưởng không ít đối với học sinh, sinh viên
sau này.
Bài viết trên đây chỉ là những nhận xét thô thiển của một cá nhân, với
số sách sử tham khảo rất giới hạn. Chúng tôi mong mỏi được quí vị thức
giả trong và ngoài nước, có tinh thần tự do, vô tư và không bị hạn chế
bởi bất cứ một áp lực chính trị nào, chỉ giáo và đóng góp ý kiến rộng
rãi, để làm sáng tỏ vấn đề: “Nhà Triệu là một triều đại chính thống, có
công với dân tộc Việt Nam, hay Nhà Triệu chỉ là một nhà nước xâm lược?”
(Viết tại Little Sài Gòn ngày đầu Xuân Đinh Hợi 2007)
Song
Thuận
Sách Tham Khảo:
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Tập I – Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội –
1998.
- Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim - Nhà Xuất Bản Miền Nam – 1971.
- Việt Sử Tiêu Án – Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ - Văn Sử xuất Bản – 1991.
- Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn - Tủ Sách Sử Học - Đại Nam.
- Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Quyển I - Phạm Cao Dương - Truyền Thống
Việt – 1987.
- An Nam Chí Lược – Lê Tắc – Nhà Xuất Bản Thuận Hóa – 2002.
- Sử Trung Quốc – Nguyễn Hiến Lê - Văn Nghệ - 2003.
- Những Câu Chuyện Việt Sử - Tập 2 - Trần Gia Phụng – Toronto – 1999.
- Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời – Đào Duy Anh – Nhà Xuất Bản Văn Hóa
Thông Tin.
- Một Thế Kỷ Khảo Cổ Học Việt Nam-Tập II-Viện Khảo Cổ Học – Nhà XBKHXH
- Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam – Trương
Thái Du - 2005 talawas.
|