|
| Trang Ðầu | Về Hội | Tin Tức | Sinh Hoạt | Lịch Sử | Văn Hóa |
|
Nhà văn PHAN KHÔI và VỤ ÁN NHÂN VĂN
Tiểu Sử Phan Khôi hiệu là Chương Dân, sinh ngày 20-08-1887 (đinh hợi) tại làng Bảo An quận Ðiện Bàn tỉnh Quảng Nam, thận phụ là phó bảng Phan Trân (1826-1935) thân mẫu Hòang thị Lệ (1826-1882) con gái của Tổng đốc Hoàng Diệu (1828-1882). Năm 1906 Phan Khôi ra Huế thi Hương, nhưng rớt cử nhân được sắp vào hạng tú tài. Ông lấy biệt hiệu Tú Sơn (Tout Seul / cô độc). Phan Khôi xuất thân trong gia đình khoa bảng, ông nội là án sát Phan Nhu. Phan Khôi học hán văn từ nhỏ, nhờ đọc các sách Tân thư nên có tình thần Duy tân tin ở Dân quyền. Phong trào Duy Tân hoạt động (1906-1908) do Phan Chu Trinh (1872-1926), Hùynh Thúc Kháng (1876-1947) và Trần Quý Cáp (1870-1908) cùng các sĩ phu tại quê nhà lãnh đạo. Phan Khôi hưởng ứng Phong trào ra Hà Nội học chữ Quốc ngữ và Pháp văn tham gia hoạt động với trường Ðông Kinh Nghĩa Thục mở cửa năm 1907. Năm 1908 Phong trào bị thực dân Pháp đàn áp, tất cả đều bị bắt bỏ tù hay tử hình. Phan Khôi lúc đó ở Hà Nội, bị bắt đưa về giam ở Huyện Diên Phước (Ðiện Bàn), thời gian ngắn, được ân xá ông ra Huế theo học tại trường Pellerin từ năm (1909-1911). Thân phụ mất về quê để tang, mở trường dạy học, hết tang ông lập gia đình (1913) nhạc phụ là ông Lương Thúc Kỳ (1873-1947) giáo viên trường Dục Anh tại Phan Thiết do ông Nguyễn Trọng Lợi thành lập (Phong Trào Duy Tân). Sinh hoạt viết Báo Phan Khôi là nhà văn, nhà báo, còn là nhà nghiên cứu sắc nét đã gây dư luận một thời.
Ông ra Hà Nội tiếp tục viết:
Phan Khôi trở về Sài Gòn vào năm 1925 cộng tác các tờ:
Tại Sài Gòn ông làm chủ bút:
Ông ra Hà Nội làm chủ bút:
Ở Huế ông làm chủ bút:
Làm chủ nhiệm kiêm chủ bút:
Trong thời gian nầy ông viết thêm các tờ:
Phan Khôi dịch bộ Thánh Kinh của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Ðạo Tin Lành sang truyền giáo tại Việt Nam, chưa có Kinh Thánh bằng Việt ngữ. Phan Khôi là nhà Nho am hiểu Pháp văn. Ông đối chiếu hai cuốn Kinh viết từ Hán văn và Pháp văn dịch sang chữ Quốc ngữ (1921). Phan Khôi gom các bài viết (1917-1945) được đăng tải qua báo chí in thành tập:
Nhà xuất bản Đà nẳng Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, nhà văn Lại Nguyên Ân người am hiểu Hán văn cũng như Pháp ngữ đã sưu tầm biên soạn về Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1928. Làm Thơ Bài thơ Ngụ ngôn ông viết vào khoảng năm 1909 sau vụ Trung Kỳ Dân Biến (1908) với thể thơ tự do nhưng chưa được phổ biến rộng rãi. Vì báo chí viết bằng chữ Quốc ngữ còn phôi thai. Sự nghiệp văn chương của Phan Khôi có chỗ đứng vinh quang trong trên văn đàn Việt Nam. Mồng bảy tháng bảy năm Canh thân Hai mươi ba năm sau bài thơ Tình Già trình làng, đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 122 ngày 10-3-1932. Từ đó phong trào thơ mới được bắt đầu, lối làm thơ tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, dường luật nhường chỗ cho phong trào thơ mới. Mở đầu cho thi ca Việt Nam phát triển phong phú hơn. Bài thơ Tình Già của Phan Khôi được đưa vào chương trình giáo dục (trung học) trước 1975 tại miền Nam.
Lý luận Phan Khôi Phan Khôi là một kiện tướng của “Quảng Nam hay cãi”. Người xưa nói “quân tử hòa nhi bất đồng” người quân tử không đồng nhất với nhau nhưng vẫn giữ tư tưởng sự hòa thuận tôn trọng nhau và cộng tác. Phan Khôi ảnh hưởng nho học và tân học (say mê khoa luận lý học logique) khả năng lý luận uyên bác. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân viết về gia đình Phan Khôi:
Phan Khôi phê bình bộ Nho Giáo của Trần Trọng Kim (1883-1953) xuất bản gây các cuộc bút chiến với Phạm Quỳnh (1892-1945) vào năm 1930 (1). Trên tờ Phụ Nữ Thời Ðàm năm 1932 bài viết “Văn minh vật chất và Văn minh tinh thần” của Phan Khôi đưa đến bút chiến với nhà văn cộng sản Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (1908-1954). Phan Khôi là nhà văn miền Nam có danh tiến mà gia đình đã tập kết ra Bắc, chính quyền Hà Nội năm 1956, cử ông đi Trung Quốc cùng nhà thơ Tế Hanh dự hội nghị kỷ niệm lần giỗ thứ 20 của Lỗ Tấn (1881-1936) tại Bắc Kinh (Peking) trên đất nước đàn anh cộng sản giáo điều, nhưng Phan Khôi tranh luận với cán bộ Trung Cộng về chủ nghĩa Mác xít (Marxist), Phan Khôi phê bình khi tới thăm nhà máy An Sơn như sau:
Cán bộ Tàu lễ phép chửa lại:
Cụ Phan trả lời ngay:
Day học và hoạt động chính trị Năm 1934 dạy Việt Văn ở trường tư thục Hồ Ðắc San tại Huế. Năm 1936 Phan Khôi dạy tại trường Chấn Thanh Sài Gòn do Phan Bá Lân làm hiệu trưởng. Năm 1941 trường Chấn Thanh dời về Ðà Nẳng. Trong thời đệ nhị thế chiến (1939-1945) có thể đời sống tại Sài Gòn khó khăn, Phan Khôi về Quảng Nam. Cụ lớn tiếng công kích cán bộ địa phương phá hủy nhà thờ Hoàng Diệu, và chính sách khủng bố của Việt Minh bắt thủ tiêu các đảng phái đối lập. Nhất là các đảng viên VNQDÐ. Ông Trương Phước Tường bị Việt Minh bắt tại Tam Kỳ ngày 4-2-1946. Phan Khôi được bầu làm chủ nhiệm tượng trưng cho tỉnh Ðảng bộ. Phan Bá Lân làm Bí thư và ban chấp hành tỉnh Hoàng Tăng, Phan Khoang, phụ trách Tuyên nghiên huấn. Lê Thận phụ trách Ðặc vụ. (Hoàng văn Ðào sđd trang 354) Hà Nội ngày 13-7-1946 Võ Nguyên Giáp cho người lục soát trụ sở Ban Tuyên huấn Ðệ thất khu Ðảng Bộ của VNQDÐ tại số 9 phố Ôn Như Hầu, trụ sở nầy vốn của quân đội Nhật giao lại cho quân đội Trung Hoa; rồi chuyển cho VNQDÐ. Việt Minh phao tin lên tìm thấy trong khu vực nhà nầy có chôn xác người, lấy đó làm bằng cớ, lập biên bản kết tội VNQDÐ là tổ chức “hắc điếm” để bắt cóc, giết người. Việt Minh thanh toán VNQDÐ được gọi là vụ án Ôn Như Hầu. Từ đó Việt Minh thanh toán VNQDÐ trên toàn quốc. (Minh vũ Hồ Văn Châm báo đd tr.45) Cán bộ địa phương không dám thanh toán Phan Khôi và báo cáo lên cấp
trên, vì con trai của Phan Khôi là Phan Thao (1915-1960), lúc bấy giờ
làm cán bộ cao cấp trong Ủy Ban Trung Bộ, và Phan Bôi (1910-1949) bí danh
Hoàng Hữu Nam (anh em chú bác với Phan Khôi) làm thứ trưởng bộ nội vụ
Việt Minh. Phan Khôi viết thư gởi Huỳnh Thúc Kháng đang giữ chức Bộ trưởng
Bộ nội vụ Huỳnh Thúc Kháng vội vàng can thiệp với Hồ Chí Minh giàn xếp
vấn đề, viết thư mời Phan khôi ra Hà nội hợp tác, nhưng kỳ thực giao Phan
Bôi để quản thúc. Phan Khôi những ngày trên đất Bắc Phan Thao và Phan Bôi đưa Phan Khôi lên các vùng chiến khu Việt Bắc do Việt Minh hoàn toàn kiểm soát. Sống biệt lập, giao trách nhiệm dịch sách từ Hán văn hay Pháp văn ra Việt ngữ. Phan Khôi tán thành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nên phải đứng chung với chủ nghĩa cộng sản.
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) Phan Khôi đã làm bài thơ Thăm bộ đội, trong Tập văn kháng chiến và cách mạng:
Trong những tháng ngày buồn chán bị cấm đoán cô đơn, Phan Khôi gởi tâm sự qua các bài thơ:
Trong bài thơ chữ Nho sáng tác năm 1950 Thế Lữ dịch:
Phan Khôi tự ví mình như con heo sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc:
Hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954, Việt Nam bị chia đôi, sông Bến Hải ngăn cách hai miền Nam Bắc tại vĩ tuyến 17. Gần 1 triệu người bỏ miền Bắc di cư vào Nam. Ngược lại Việt Minh cho các cán bộ kết ra Bắc và để lại khoảng 100 ngàn cán bộ nằm vùng. Gia đình Phan Khôi tập kết ra Bắc, được đoàn tụ gia đình về sống trong phòng hội Văn nghệ Hà Nội số 151 đường Trần Hưng Ðạo. Tương truyền rằng trong bửa cơm người bạn mời có thịt gà Phan Khôi cầm đủa, liền chỉ dĩa thịt gà trên mâm nói rằng “chín năm nay tao lại gặp mầy”. (Hoàng Văn Chí sđd tr.11) Suốt trong thời gian Phan Khôi sống trên các miền Thượng du rất khổ cực không được ăn thịt gà, đời sống về vật chất cũng như tư tưởng bị giới hạn, có thể nói đây là giai đoạn giam lỏng, không muốn Phan Khôi chống lại chế độ. Hồ Chí Minh tặng cho Phan Khôi một chiếc áo, nhưng lòng ông vẫn lạnh lùng vật chất không thể quyến rũ. Vụ án Nhân văn - Giai Phẩm Giai phẩm Xuân nầy tập hộp các cây bút sáng tác tự do, không lệ thuộc chính quyền. Không chấp nhận sự “lãnh đạo văn nghệ” Trong giai phẩm nầy nổi bậc nhất bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần, bị chính quyền kết án chụp mũ phản động, báo bị tịch thâu và ngày mồng 2 Tết Bính thân (13-2-1956). Các văn nghệ sĩ sống tại Hà Nội chia làm hai thành phần: theo Ðảng làm bồi bút. Hoặc độc lập sống nghệ thuật vì nghệ thuật. Thời bấy giờ dư luận xôn xao trong quần chúng về việc công báo kết quả các “Giải Thưởng Văn Học” năm 1954-1955 trên báo Văn Nghệ Hà Nội số 112 ra ngày 15.3.1956 và báo Nhân Dân ngày 17.3.1956. Các tác giả vừa có tác phẩm tham dự, vừa được làm giám khảo. Họ là văn thi sĩ của đảng của chính quyền, nộp bài và tự chấm bài lãnh giải thưởng. (Tố Hữu giải nhất; giải nhì Xuân Diệu ...) Phan Khôi người cương trực, viết bài phê bình vạch trần sai lầm đó. Tựa bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” dài 14 trang giấy đánh máy đăng trong Giai phẩm mùa Thu tập 1 ngày 29-8-1965.
Phan Khôi viết truyện ông Năm Chuột trong giai phẩm mùa Thu tập 1 (giai phẩm nầy có thêm tập 2, tháng 10.1956 và tập 3 tháng 11.1956. Giai phẩm mùa Ðông tháng 12-1956 bị đóng cửa cấm phát hành). Trong bài phê bình lãnh đạo văn nghệ Phan Khôi viết :
Bài báo gây dư luận sâu rộng tại Hà Nội “có người thốt lên rằng chín mười năm nay mới nghe tiếng nói sang sảng của cụ Phan Khôi”. (Hoàng Văn Chí sđd 26) Phan Khôi còn làm bài thơ ngụ ngôn:
Nhân Văn Sau giai phẩm mùa Thu tập 1. Nhân văn ra đời. Phan Khôi giử chức chủ nhiệm kiêm chủ bút số 1 ra ngày 20.9.1956 đến số 6 đang in tại nhà in Xuân Thu bị tịch thu và đóng cửa ngày 15.12.1956. Tuổi về già nhưng Phan Khôi tận lực theo đuổi lý tưởng, không sợ bạo quyền đe dọa, dùng ngoài bút đấu tranh mong dành lại cho Văn học Việt Nam, một chổ đứng trung thực dưới chế độ cộng sản.
Nhân văn và Giai phẩm là những bông hoa hương sắc nở ra trên đất Bắc “Trăm hoa đua nở?" không lâu “Trăm hoa bị vào tù!” Báo Văn Báo Văn 10.5.1958 số 36 ngày 10.1.1958 do nhà Văn Nguyễn Hồng quản lý tòa sọan, đăng bài ông năm Chuột của Phan Khôi trong số 36 ngày 10.11.1958 từ đó bị đóng cửa. Cộng sản làm cái bẩy “Trăm hoa đua nở” để bắt toàn bộ văn nghệ sĩ có tư tưởng chống lại chế độ, thanh trừng: bỏ tù đưa đi lao động, cải tạo trên các vùng rừng sâu nước độc. Các nhà Văn, thi sĩ thời tiền chiến (trước 1945) nổi danh như: Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nguyễn Tuân họ sống với cái xác trong xã hội cộng sản, hồn thơ, lời văn của họ đã chết từ lâu. Những năm qua văn nghệ tạm đổi mới đã phục hồi danh dự cho vụ Án Nhân Văn các nhà văn, nhà thơ tiền chiến nhưng họ đã ra người thiên cổ! Nhà thơ Hữu Loan với bài thơ bất hủ “Đồi tím hoa sim” là nhân chứng cuối cùng đã được đài BBC London phỏng vấn đã cho biết thật tế giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử Việt Nam. Văn nghệ sĩ miền Bắc sống trong đe dọa thường bị kết án phản động giống như Phan Khôi viết
Ðầu năm 1956 Phan Khôi dịch cuốn sách trong đó có chữ “Pomme de terre” ông dịch chữ đó “khoai nhạc ngựa”. Báo Cứu quốc chê Phan Khôi già lẩm cẩm dịch sai cho rằng hai chữ trên phải dịch là “khoai tây” sao dịch là “khoai nhạc ngựa”? Phan Khôi trả lời:
Phan Khôi với “Nắng Chiều” Vụ án Nhân văn Giai phẩm năm 1956 Phan Khôi, không bị tập trung cải tạo như các văn nghệ sĩ trí thức khác, phải đi lao động khổ sai, nhưng cuộc đời của ông là chuổi ngày còn lại cô đơn!
Ngày sinh nhật thất thập của Phan Khôi viết :
Tai vách mạch rừng đến tai nhà văn Nguyễn Công Hoan nhà văn bồi bút đắc lực với chế độ kiếm miếng đỉnh chung, họa lại bài thơ thật vô lễ, khiếm nhã với nhà thơ đàn anh lão thành Phan Khôi.
Nắng Chiều là tựa đề tác phẩm Phan Khôi tập hộp các bài bút ký, tạp văn viết từ năm 1946. Bản thảo của Phan Khôi đưa cho nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Bị dìm luôn không được đăng. Có thể bản thảo Nắng Chiều được các nhà văn “bồi bút” trong hội đọc. Thế Lữ (1907-1989) viết bài trên báo nhân dân ngày 12-4-1956 số 1501 lên án Phan Khôi:
Trong bài phê bình tiếp tục tác giả Ðoàn Giỏi (1925-1989) tựa đề “tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi” đăng trên báo Văn Nghệ số 15 tháng 8-1958. Nhờ loạt bài phê bình trên có trích dẫn, những tác phẩm cuối cùng Nắng Chiều của Phan Khôi gồm có hai phần:
Phan Khôi con người khẳng khái, Sống và Viết trung thực không luồn cúi dưới chế độ Cộng sản, để mưu cầu danh lợi. Ông sống đúng tiết tháo của một nhà nho cho đến cuối cuộc đời. Những bài viết trong tập Nắng Chiều dù không được xuất bản. Nhưng nhờ Ðoàn Giỏi trích dẫn phê bình. Chúng ta thấy Phan Khôi chủ đích chính trong bài chỉ trích chế độ cộng sản độc tài cai trị tại miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ Phan Khôi một vì sao lạc dưới chế độ cộng sản, đã giết chết cuộc đời văn chương. Nhưng trong tuổi già nắng xế Phan Khôi viết phản ảnh chế độ cộng sản như loại “cỏ bù xít” vì loại cỏ nầy có mùi hôi như con bọ xít. “Hoa cứt lợn” hay là cây “Chó đẻ”. Học giả Đào Duy Anh sống ở miền Bắc sau 1975 vào Sài Gòn đến thăm nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã tậm sự:
Thiên đường cộng sản từ Liên Sô đã sụp đổ từ năm 1990 làm thay đổi cục diện thế giới, các quốc gia ở Đông Âu đều từ bỏ chủ nghiã cộng sản theo chế độ tự do và dân chủ. Những loại cỏ Phan Khôi đã gọi trong văn chương, hy vọng người Việt Nam nhổ bỏ bớt loại cỏ ấy, trồng những loại hoa xinh đẹp cho quê hương thêm tươi thắm. Tình thần sống và hoạt động của nhà văn Phan Khôi thật đáng ngưỡng mộ. Theo lời kể lại, người con trai của ông là Phan Thao khi đó là cán bộ đảng, đã không dám đến dự đám tang cha mà chỉ cải trang làm một người tình cờ, dắt xe đạp đi trên vỉa hè trong lúc đám tang đi dưới lòng đường!!! Trong nhiều thập niên sau đó tên tuổi ông bị lãng quêǹ, sự nghiệp báo chí của ông cũng ít được giới thiệu. Văn học miền Nam trước 1975 đều biết Phan Khôi qua bài Tình Già . Nhà văn Thanh Lãng viết về Phan Khôi trong Phê bình Văn học thế hệ 1932 Sài Gòn 1973, Trăm hoa đua nở cuả Hoàng Văn Chí, mãi cho đến năm 1995, 13 năm tranh luận văn học 1932-1945 in lại 3 tập Tp HCM 1995. Nhà văn Phan Khôi mất vào lúc 11 giờ sáng ngày 16-1-1959 tại số 73 phố Thuốc Bắc Hà Nội, Phan Khôi sống và mất như nhà thơ Phùng Quán viết:
Chân thành cảm ơn các tác giả viết về nhà văn Phan Khôi và tôi đã mạn phép trích đăng, dẫn chứng tài liệu và hình ảnh cho bài viết nầy. Tác giả Nguyễn Quý Đại
Phan Khôi viết bài phê bình trên Phụ Nữ Tân Văn số 54
tháng 6 năm 1930 “Ðọc cuốn Nho giáo của ông Trần Trọng Kim” sau đó Trần
Trọng Kim trã lời cùng tờ báo trên số ngày 10-7-1930 bài “Mấy lời bàn
với tiên sinh về Khổng giáo” tiếp theo số báo 62 ngày 24-7-1930 Phan Khôi
viết tiếp “Sau khi đọc bài trã lời Trần Trọng Kim tiên sinh, cảnh
cáo các nhà học phiệt”. Trong bài nầy có đề cập đến Phạm Quỳnh.
Phạm Quỳnh trã lời Phan Khôi số báo 60 ngày 28-8-1930 “Trã lời bài cảnh
cáo các nhà học phiệt của Phan Khôi tiên sinh”. Phan Khôi đáp lại
số 70 ngày 18-9-1930 “Về cái ý kiến lập hội Chấn Hưng Quốc Học của ông
Phạm Quỳnh”. Phần chú thích thêm về tiểu sử nhà văn Phan Khôi
Vậy ghi lại các đoạn trên để rộng đường suy luận. Tài
liệu tham khảo thêm |
| ©2003
Hùng Sử Việt |