|
Mê Linh Quật Khởi
Dựng Nền Độc Lập Triều Đại Trưng Vương
Trong tâm khảm người
Việt chưa ai quên được 80 năm dưới chế độ Thực dân Pháp dân tộc ta đã
chịu biết bao nhiêu thống khổ dưới gót giày xâm lược. Thực dân tha hồ
bắn giết, nhiều làng bị san bằng như làng Cổ An ở Hải Dương năm 1932 trong
cuộc khởi nghĩa của Việt Nam.
Người dân đói khát khổ cực, miếng cơm không
có ăn, manh áo không có mặc. Chúng bóc lột bằng mọi thứ thuế, trong đó
có cả thuế thân! Muốn sống cuộc đời trâu ngựa ai cũng phải đóng thuế!
Và dưới chế độ độc tài, thế hệ chúng ta đã
chịu bao nhiêu điêu linh cay đắng! Sống chết nhờ họa, phúc, bất trắc đọa
đày.
Đấy là những người cầm quyền cùng nòi giống
Việt , nói chi đến chế độ cai trị trực tiếp trăm lần khắc nghiệt của thực
dân phương Bắc trong gần 250 năm , từ 207 trước TL đến năm 40 sau TL,
là năm hai chị em bà Trưng phất cờ khởi nghĩa lấy lại độc lập cho đất
nước.
Trong thời gian đen tối đó, quan cai trị người
Tàu, lính tráng người Tàu mặc tình chém giết, vơ vét của cải, người dân
Việt nghèo đói, túng thiếu đến nỗi trai gái lớn lên không có tiền để cưới
hỏi. Hình ảnh những người Việt phải xuống sông, xuống biển mò ngọc trai,
lên rừng tìm ngà voi, sừng tê giác nộp cho bọn Thứ Sử, Thái Thú ... để
chúng đem về triều cống vua Tàu và bỏ túi riêng làm giàu trên xương máu
người bản xứ.
Chúng ta thử tưởng tượng thời xa xưa
ấy quận Giao Chỉ có 746.217 người, quận Cửu Chân có 166.013, tức từ miền
Bắc tới Quảng Bình dân số vỏn vẹn chưa tới 1 triệu (912.230 người), đất
đai, sông ngòi còn hoang rậm. Thú dữ như cọp, báo, chó sói, tran, rắn
... tràn ngập trên rừng, cá sấu, cá mập lúc nhúc dưới sông, dưới biển
thì những người phải đi tìm châu báu nộp cho quan lại Tàu mấy người được
toàn thân trở về.
Những chuyện truyền khẩu trong dân gian kể
lại cho tới bây giờ việc quan lại Tàu giàu có khi về nước của cải đem
theo không hết phải đào hầm chôn giấu và bắt các trinh nữ người Việt trói
chặt ngồi trên ghế, miệng ngậm sâm nhốt trong hầm làm ma khô giữ của cho
chúng (chúng sẽ để lại họa đồ cho con cháu sang lấy).
Chính sự tham lam tàn bạo ấy dến thời
Tô Định đã lên cao tới cực điểm làm dân chúng oán hờn và những người nặng
lòng với dân với nước căm giận nổi lên khắp nơi.
Ngoài gia đình Trưng Vương ở Mê Linh
và ông Thi Sách ở Châu Diên còn có ông Trương Quân ở Thái Bình, ba anh
em ông Cao Doãn ở Lai Tảo Hà Đông, ông Nguyễn Nga ở Tuy Lai. Khi thấy
lòng dân đã lên cao độ, ông Thi Sách, một người khí phách và nhân hậu
ở Châu Diên (nay là Sơn Tây và Vĩnh Yên) viết thư kể tội Tô Định: “Lúc
nào cũng bô bô nói chuyện thương dân thế mà tấm lòng bóc lột kẻ dưới càng
ngày càng dữ. Rán mỡ dân để thỏa lòng dục ...” và ông cảnh cáo:
“Nếu không sửa đổi chính sách cho rộng rãi thì sẽ nguy vong đến
nơi đãy!” (Phạm Văn Sơn, Việt Sử Tân Biên Q1, trang 172).
Những kẻ bạo ngược từ xưa đến nay không
bao giờ nghe lời nói phải. Ông Thi Sách sửa soạn lực lượng để khởi binh
nhưng trong một lúc sơ hở bị Tô Định bắt và đem giết.
Bà Trưng Trắc cùng với em là Trưng Nhì
lên thay quyền phát hịch gửi đi khắp Châu quận kêu gọi khởi nghĩa được
hào kiệt các nơi hưởng ứng đem quân về hợp lực.
Cũng nên nhắc lại, hai Bà Trưng là con
một vị lạc tướng ở Mê Linh mồ côi cha sớm, được mẹ là bà Thiện dòng dõi
vua Hùng (Sử Tàu ghi là Man Thiện cũng như họ kêu bà Triệu thị Trinh là
Triệu Ẩu. Không hiểu sao những người viết sử ở Việt Nam cũng ghi như vậy?)
nuôi nấng, dạy dỗ, hai Bà trở thành những người đảm lược, có ý chí và
lòng độ lượng. Tương truyền chính bà Thiện là người đứng ra chuẩn bị cuộc
kháng chiến ngay từ đầu. Khi chuẩn bị xong bà giao cho con rể là ông Thi
Sách và con gái là Trưng Trắc và Trưng Nhì. Hổ mẫu sinh hổ tử! Những người
xứng đáng là giòng giõi của các vua Hùng! Vì vậy gia đình Trưng Vương
được toàn dân tin tưởng, mến mộ.
Khi hai bà khởi binh trong tay vỏn vẹn có
hai ngàn nghĩa sĩ nhưng chỉ trong thời gian ngắn, anh hùng hào kiệt từ
các nơi kéo về, quân lên tới 60 ngàn người. Dân số nước ta lúc ấy khoảng
1 triệu mà có tới 60 ngàn người tình nguyện, nhập ngũ, chứng tỏ lòng dân
căm phẫn nô nức đánh giặc để lại quyền độc lập, tự do như thế nào.
Lễ xuất quân tổ chức tại bến Nam Nguyên.
Hai Bà cưỡi voi, mặc áo giáp, che lọng vàng cầm gươm thúc đại quân đánh
thẳng vào Liên Lâu, bản doanh của Tô Định bên bờ sông Nhuệ thuộc Hà Đông.
Hiện nay ở giữa Lương Sơn và Mỹ Đức tỉnh ấy còn dãy núi được kêu là núi
Vua Bà. Liên Lâu thất thủ, Tô Định và bọn quân Tàu chạy thoát về Nam Hải,
tức đảo Hải Nam bây giờ.
Thừa thắng, quân của Hai Bà tiến như vũ bão
giải phóng đất nước. Chẳng bao lâu hơn 60 thành trì treo cờ độc lập. Hai
Bà lên làm vua đóng đô ở quê nhà Mê Linh, nay thuộc tỉnh Phúc Yên dựng
nên triều đại Trưng Vương.
Lên ngôi xong thấy đất nước điêu tàn, nhân
dân thống khổ sau bao nhiêu năm sống trong nô lệ: cha mất con, vợ mất
chồng, con côi bơ vơ đói khát , hai Bà cho giảm binh để thanh niên trở
về cùng với mọi người lo xây dựng đất nước cốt cho nhân dân sớm được hưởng
cảnh thái bình thịnh trị của tổ tiên như đã được ghi lại trong Đại Việt
Sử Ký Tiền Biên: “Nước Nam về dời Lạc Hồng, vua dân cùng cày ...
Dân sống đời bấy giờ cùng nhau vui vẻ chơi đùa ở trong cõi đất không rét,
không nóng. Người già thì chết, người trẻ đến lúc già không biết đến việc
đánh nhau. Có thể gọi được là đời chí đức, gọi là nước cực lạc. Vua thì
yên vui như tượng Phật. Dân thì vẽ mình làm ăn không phiền nhiễu gì đến
sưu thuế, không việc gì phải canh phòng. Vua, dân thân nhau, dẫu vài ngàn
năm cũng không thay đổi.”
Nhờ ân đức của hai Bà, già trẻ trai gái vui
vẻ chăm lo trồng trọt chăn nuôi, cây cỏ tươi tốt, chim muông nhởn nhơ
vui hót ca ngợi cảnh thanh bình.
Nhưng cảnh sống yên vui đó chẳng được bao
lâu vì bọn thực dân phương Bắc rắp tâm phục hận. Tháng Chạp (11) năm 41
Hán Quang Vũ sai Mã Viện và Đoàn Chí, Lưu Long đem 20 ngàn quân sang Việt
Nam. Cái gương Tô Định còn sờ sờ trước mắt nên lão luyện như Mã Viện mà
còn run sợ. Chúng không dám đường đường, chính chính xuất quân mà phải
âm thầm chặt rừng phá núi hàng ngàn dậm từ Quảng Đông qua miền Lạng Sơn
vào nước Việt. Thủy quân của Đoàn Chí tiến sang song trên nhánh Bắc sông
Thái Bình để hai bên yểm trợ cho nhau. Khi đoàn quân xâm lăng tới Tây
Lý, một địa điểm ở giữa Mê Linh và Hà Nội thì bị quân của hai Bà chận
đánh kịch liệt làm Tô Định phải lui về Lãng Bạc vùng Tiên Du (Bắc Ninh).
Nữ tướng của hai Bà là Thánh Thiên Công
Chúa đem binh tới đánh mấy trận giết cả ngàn quân Hán làm Mã Viện phải
lui về cố thủ ở Bắc Giang xin tiếp viện và chờ hậu quân tiếp viện. Mặt
khác Mã Viện dùng kế nghi binh giả đưa binh lên đánh vùng Thái Nguyên,
Tuyên Quang. Thánh Thiên Công Chúa đem quân lên cứu viện miền thượng du.
Mã Viện thấy lực lượng của hai Bà bị phân
tán liền tiến về Lãng Bạc, hai Bà thân chinh cầm quân chiến đãu. Quân
Nam chiến đãu rất hăng nhưng trước quân thù quá đông đảo đành thất bại.
Hai Bà lui binh về Kim Khê vùng núi Ba Vì.
Lão tướng Đô Dương từ Cửu Chân đem quân bị
chận đánh, Thánh Thiên Công Chúa rút về cứu nhưng không kịp.
Khi quân giặc tiến đánh Kim Khê, hai bà thua
chạy dọc theo hữu ngạn sông Hát tới An Hát (nay là xã Hát Môn) chỗ cửa
sông Hát chảy ra sông Hồng được dân chúng tiếp đón nồng nhiệt dâng bánh
trôi (bánh xôi nước) và lương thực cho đoàn tùy tùng. Nhưng rồi quân giặc
lại đuổi theo, hai Bà gieo mình xuống giòng sông Hát từ trầm. Tất cả quân
theo hầu và hai trinh nữ dâng bánh trôi lên hai Bà cũng lao theo làn nước.
Đất nước Việt phủ màu tang tóc, Giòng sông
Hát dậy sóng căm hờn!
Từ đây toàn dân lại đắm chìm trong nô lệ,
tủi nhục , làm thân trâu ngựa cho người.
Ngày ấy là ngày 6-3AL năm 43 sau TL. Người
dân An Hát lập đền thờ hai Bà tại nơi hai vị hiển thánh và xây một cái
miếu nhỏ thờ hai trinh nữ dâng bánh gọi là miếu hai Cô hiện nay vẫn còn
và sáng chiều nhang khói. Hàng năm, đúng ngày mồng 6 tháng 3 người dân
làm lễ đại tế kỷ niệm, trong các lễ vật luôn luôn có bánh trôi để tưởng
nhớ bữa ăn cuối của hai Ngài. Lễ Đại Tế được tổ chức theo nghi vệ dành
cho những vì Vua. Hai Bà ngự trên Ngai vàng, che lọng vàng có đoàn quân
phù gía cầm gươm đao, cờ quạt rợp trời theo hầu. Tiếng chiêng, trống,
thanh la rộn ràng như lệnh xuất quân đánh vào thành Lư Lâu thuở nào.
Theo Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên,
vua Lý Anh Tông (1138-1175) vì trời làm hạn hán nêu vua sai thiền sư Tịnh
Giới đến đền thờ ở An Hát cầu mưa và trời làm mưa. Nhà vua thấy linh ứng
sắm lễ vật đến tế và sai sứ rước về phía bắc Đại Nội dựng đền Vũ Sư thờ
phụng. Sau nhà vua cho lập đền thờ ở làng Cổ Lai, huyện An Lãng tức là
kinh đô Mê Linh, quê hương hai Bà.
Riêng ở Hát Môn trải qua gần hai ngàn năm,
lịch sử có lúc thăng trầm nhưng đền hai Bà vẫn sáng hôm nhang khói tưỏng
nhớ công đức.
Tấm gương anh dũng của hai Bà luôn sáng ngời
cho các thế hệ con cháu về sau tiến bước. Bà Triệu khởi nghĩa chống quân
Ngô. Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo diệt quân xâm lược ở sông Bạch Đằng, hai
lần giòng sông nhuộm đỏ máu quân thù: “Đằng Giang tử cổ huyết do
hồng.” Tụy Động mồ chôn giặc Minh và Đống Đa giặc Thanh không còn
manh giáp.
Dân tộc Việt Nam trường tồn cùng năm châu
trên thế giới, đất nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu
như một bức trường thành nằm bên bờ Biển Đông đời đời bền vững.
Hai Ngài thật xứng danh với lời tôn vinh của
người sau:
Phù
An Quốc Thế Thạch Bàn Nam
Phủ Trấn
Thần Uy Đồng Trụ Bắc
nghĩa là:
Hai
Bà phù giúp cho nước Nam vững như bàn thạch
Uy danh
hai Bà phủ mờ và trấn áp cột đồng ở biên giới phía Bắc!
(câu đối trên cổng đi vào đền thờ Hai
Bà ở xã Hát Môn.)
Phạm Hy Sơn
|