Câu Lạc Bộ

The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840

Trang Ðầu Về Hội Tin Tức Sinh Hoạt Lịch Sử Văn Hóa
Please click here if you cannot read the Vietnamese characters on this website - Xin nhan day neu Qui Vi khong doc duoc chu Viet tren trang nay

Tiểu Sử và Công Ðức các vị Anh Hùng dân tộc Việt
Song Thuận

  • Giỗ Tổ HÙNG VƯƠNG
    • Tiểu sử: Hùng Vương là tên gọi chung 18 đời Vua Hùng trong họ Hồng Bàng (2879-258 tr. Tây lịch). Nếu kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, có tất cả 20 đời Vua (hoặc hơn?) trong họ Hồng Bàng.
    • Công đức: Các vị vua Hùng có công lập nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam đầu tiên, nên gọi là Quốc Tổ Hùng Vương.
    • Ðền thờ: Trên núi Ngũ Lĩnh, Huyện Phong Châu, Tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) Bắc Việt, và nhiều nơi khác trong nước. Tại Hoa Kỳ, có nhiều Ðền thờ Quốc Tổ Hùng Vương, gọi tắt là Ðền Hùng ở các Tiểu Bang. Riêng tại Tiểu Bang California có Ðền Hùng ở San Jose và Orange County (Little Saigon). Ðền Hùng ở Little Sàigòn do Hội CNAM thờ phụn.
    • Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch mỗi năm.

  • Kỷ Niệm Phù Ðổng Thiên Vương (đời Hùng Vương thứ 6)
    • Tiểu sử: Phù Ðổng Thiên Vương là tước phong của một thiếu nhi làng Phù Ðổng, Bộ Võ Ninh (nay là tỉnh Bắc Ninh), lên ba tuổi chưa biết nói. Nhân trong nước có giặc Ân rất hung bạo, vua Hùng phải cho Sứ giả đi rao truyền khắp dân gian tìm người tài giúp vua đánh giặc. Gặp Sứ giả, cậu bé bỗng biết nói, và tâu vua đúc ngựa sắt, roi sắt đi đánh giặc. Sau đó, cậu bé vươn vai cao lớn, cưỡi ngựa sắt, múa roi sắt dẹp tan giặc Ân, rồi đi lên Sóc sơn bay về trời. Ðây có lẽ là câu truyện thần thoại nói lên ước vọng của người dân trong thời giặc giã, mong sao có Thần linh phù hộ giúp vua dẹp giặc, để được yên ổn làm ăn.
    • Công đức: Phù Ðổng Thiên Vương là vị thần có công giúp vua, giúp nước dẹp giặc giữ yên bờ cõi. Phù Ðổng Thiên Vương cũng tượng trưng cho tuổi trẻ góp công sức giữ gìn bờ cõi. Câu chuyện thần thoại này cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho giới văn nhân, nghệ sĩ dùng làm đề tài sáng tác những tác phẩm ca tụng tuổi trẻ VN.
    • Ðền thờ: Ở làng Phù Ðổng, Huyện Vũ Ninh.
    • Ngày kỷ niệm: Mồng Tám tháng Tư âm lịch mỗi năm. (Phù Ðổng Thiên Vương tục gọi là Thánh Gióng, nên dân làng Khâm, làng Dâu và nhất là tại đình làng Gióng có mở Hội hàng năm, gọi là Hội Gióng có diễn lại sự tích Phù Ðổng Thiên Vương phá giặc Ân rất vui, nên ca dao có câu: “Mồng bẩy hội Khâm, Mồng tám hội Dâu, Mồng chín đâu đâu, thì về hội Gióng.”

  • Kỷ Niệm AN DƯƠNG VƯƠNG (257-207 tr. Tây lịch)
    • Tiểu Sử: An Dương Vương tên húy là Thục Phán, đánh bại Hùng vương thứ 18, lấy nước Văn Lang, đổi tên thành Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Huyện Ðông Anh, Tỉnh Phúc Yên—Bắc Việt).
    • Công Ðức: Lập ra nước Âu Lạc, có công xây thành Cổ Loa, là một kiến trúc cổ chứng minh nền văn minh rất sớm của dân tộc Việt.
    • Ðền thờ: Làng Cổ Loa, huyện Ðông Anh, Tỉnh Phúc Yên , gần Hà Nội Bắc Việt. Ngoài ra, trên núi Mộ Dạ, gần xã Cao Ái, huyện Ðông Thành, tỉnh Nghệ An, có đền thờ An Dương Vương, gọi là đền Công vì có nhiều chim công ở đó.
    • Ngày Kỷ Niệm: Mồng 6 tháng Giêng Âm Lịch mỗi năm.

  • Hai Bà Trưng
    • Tiểu Sử: Bà Trưng Trắc (? - 43 ) và Bà Trưng Nhị (? - 43) là hai chị em, con gái quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên). Bà Trưng Trắc là vợ ông Thi Sách, người quận Châu Diên, phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên.
    • Công Ðức: Năm Canh Tí (40), Thái Thú Tô Ðịnh quận Giao Chỉ là người bạo ngược, chính trị tàn ác, lại giết ông Thi Sách nên lòng dân rất oán giận. Hai Bà Trưng có công đánh đuổi Thái Thú Tô Ðịnh và quân Ðông Hán, hạ được 65 thành trì, giải phóng quận Giao Chỉ và thu phục thêm ba quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố (Quảng Ðông), lấy lại phân nửa nước Nam Việt nhà Triệu. Hai Bà Trưng lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Trưng Nữ Vương (40 - 43) chính là những vị nữ anh hùng đã “Mở Ðường Ðộc Lập” cho dân tộc Việt.
    • Ðền thờ: Tại nhiều nơi như Làng Ðồng Nhân (Ðại Lý Hoàn Long, phía Nam thành phố Hà Nội), Ðền Xã Hát Môn còn gọi là “Miếu Hát” ngay bên bờ sông Hát (Huyện Phúc thọ, tỉnh Sơn Tây), Ðền Hạ Lôi làng Hạ Lôi, phủ Yên Lăng, Tỉnh Phúc Yên (Mê Linh xưa).
    • Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch mỗi năm.

  • Bà Triệu (225? - 248?)
    • Tiểu Sử: Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh, thường gọi là Bà Triệu. Sử không ghi rõ ngày sanh và ngày mất. Dựa vào chi tiết Bà Triệu nổi dậy năm Mậu Thìn (248), chống cự với Lục Dận được 5, 6 tháng thì bị thua và tuẫn tiết lúc đó mới 23 tuổi, nên phỏng đoán Bà sinh khoảng năm Ất Tí (225?), người huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
    • Công Ðức: Năm Mậu Thìn (248), Bà Triệu cùng anh là Triệu Quốc Ðạt khởi binh ở núi Bồ Ðiền, xuống đánh quận Cửu Chân. Bà Triệu rất mưu lược và can đảm, thường cưỡi voi, mặc giáp vàng xuất trận, và được suy tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Bà Triệu đã có công thổi luồng gió cách mạng trong các tầng lớp dân chúng, bằng những lời nói khẳng khái, bất hủ trong sử xanh, làm kích động các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm dành độc lập của các thế hệ tiếp nối: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể Ðông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì thiếp người ta.”
    • Ðền thờ: Trên núi Gai (núi Ải) ở xã Phú Ðiền, huyện Mỹ Hóa (nay là làng Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc), tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 137 cây số. Xưa được vua Lý Nam Ðế phong là “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”, và có Lăng trên núi Tùng đối diện với Ðền ở bên kia quốc lộ 1A. Lại có đền thờ ở huyện Yên Hóa tỉnh Ninh Bình, được triều Nguyễn phong là Liệt nữ.
    • Ngày kỷ niệm: Lễ hội hàng năm vào ngày 21 tháng 2 âm lịch.

  • Ngô Quyền (898-944)
    • Tiểu Sử: Ngô Quyền người làng Ðường Lâm (huyện Phú thọ, tỉnh Sơn tây, nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây), sinh năm 898, con quan Châu Mục Ðường Lâm là Ngô Mân. Lớn lên, Ngô Quyền có trí dũng và sức mạnh hơn người, cử nổi vạc lớn, được Dương Diên (Ðình) Nghệ gả con gái cho và trao binh quyền giữ Ái Châu (Thanh Hoá). Ngô Quyền mất năm Giáp Thìn (944), thọ 46 tuổi.
    • Công Ðức: Năm 937, Dương Diên Nghệ bị người con nuôi là Kiều Công Tiễn làm phản giết chết. Ngô Quyền mang quân từ Ái Châu về hỏi tội, Kiều Công Tiễn bèn cầu cứu quân Nam Hán sang xâm phạm nước ta.
               Ngô Quyền trước hết tiêu diệt Kiều Công Tiễn, sau đó dùng mưu đóng cọc gỗ bịt sắt nhọn trên sông Bạch Ðằng. Tháng 12 năm 938, quân Nam Hán do Hoàng Tháo là con vua Nam Hán chỉ huy, tiến vào sông Bạch Ðằng. Ngô Quyền dụ địch vào bãi cọc, rồi chờ khi nước triều rút xuống rất nhanh, bèn cho quân phản công mãnh liệt, khiến thuyền địch va vào cọc nhọn đều bị đắm chìm ngổn ngang. Hoàng Tháo bị bắt tại trận và bị chém. Từ đó Nam Hán không dám gây hấn với nước Nam nữa.
               Ðánh đuổi xong quân Nam Hán, Ngô Quyền lên ngôi Vương (năm 939), đóng đô ở Cổ Loa (huyện Ðông Anh, Phúc Yên). Ngô Vương Quyền là người có công lớn mở ra nền độc lập cho nước Nam sau hàng ngàn năm bị Tàu đô hộ.
    • Ðền Thờ và Lăng: Ngày nay ở huyện Ba Vì, Tỉnh Hà Tây (Sơn Tây).
    • Ngày Kỷ Niệm: Không rõ.

  • Lê Ðại Hành (941-1005)
    • Tiểu Sử: Lê Ðại Hành họ Lê tên Hoàn, người làng Trung Lập, Ải Châu (Thanh Hóa), làm quan Thập Ðạo Tướng Quân đời nhà Ðinh, được quân sĩ tôn lên làm vua tức Ðại Hành Hoàng Ðế, vì khi đó vua nhà Ðinh còn nhỏ mà quân Tống lại lâm le sang xâm chiếm nước ta.
    • Công Ðức: Vua Lê Ðại Hành có công phá Tống bình Chiêm, giữ vững nền độc lập quốc gia. Năm 981, tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đem bộ binh qua ngả Lạng Sơn và Lưu Trừng mang thủy quân theo ngả Bạch Ðằng, sang xâm lấn nước ta. Lê Ðại Hành phá tan quân Tống trên bộ, chém Hầu Nhân Bảo ở Chi Lăng và đuổi được quân Tống về Tàu.
               Sau khi bình định Chiêm Thành, Lê Ðại Hành đã dẹp yên 49 động Hà Man và giặc giã khắp nơi, yên trị được đất nước.
    • Ðền Thờ: Hiện nay ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình còn có đền thờ.
    • Ngày Kỷ Niệm: Không rõ.

  • Lý Thường Kiệt (1019-1105)
    • Tiểu Sử: Lý Thường Kiệt tên húy là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, người làng An Xá, Huyện Quảng Ðức (nay thuộc Hà Nội), làm quan trải qua 3 đời vua: Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072) và Lý Nhân Tông (1072-1127), khởi đầu là chức hoạn quan nhỏ (Hoàng Môn Chi Hậu) nhờ có vẻ mặt “tươi đẹp lạ thường”, sau làm tới chức Thượng Trụ Quốc, Thái Úy, tước Khai Quốc Công, và được nhận làm Thiên Tử Nghĩa Ðệ (em kết nghĩa với Thiên Tử), mang quốc tính họ Lý. Lý Thường Kiệt sinh năm Kỷ Mùi (1019) và mất năm Ất Dậu (1105), thọ 86 tuổi.
    • Công Ðức: Lý Thường Kiệt có công phá Tống bình Chiêm, đặc biệt đã mang quân chinh phạt tận đất Tống, cùng Tướng Tôn Ðản đánh phá các thành châu Ung (Quảng Tây), châu Khâm và châu Liêm (Quảng Ðông), và lập chiến tuyến Như Nguyệt trên bờ Nam sông Cầu, trấn giữ và đẩy lui quân Tống xâm lăng, bảo vệ non sông Ðại Việt. Lý Thường Kiệt đã để lại cho hậu thế 4 câu thơ bất hủ, tựa như một lời tuyên ngôn độc lập:
               “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”.
               “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
               “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”
               “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
    • Ðền Thờ: Ðược lập ở nhiều nơi trong nước.
    • Ngày Kỷ Niệm: Tháng 6 âm lịch (Lý Thường Kiệt mất vào tháng 6 năm Ất Dậu).

  • Trần Hưng Ðạo (?-1300)
    • Tiểu Sử: Trần Hưng Ðạo tên húy là Trần Quốc Tuấn, người làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc tỉnh Nam Ðịnh), tổ tiên làm nghề chài lưới, con trai thứ của An Sinh Vương Trần Liễu, sau được phong là Hưng Ðạo Vương. Trần Hưng Ðạo sinh vào khoảng năm 1230 đến 1232, mất ngày 20 tháng tám năm Canh Tí (1300), thọ khoảng 70 tuổi.
    • Công Ðức: Trần Hưng Ðạo có công đánh đuổi giặc Nguyên tức quân Mông Cổ hung bạo nhất thế giới ở thế kỷ 13. Giặc Nguyên xâm lăng nước Ðại Việt 3 lần, đều bị quân tướng nhà Trần dưới quyền chỉ huy của Hưng Ðạo Ðại Vương đánh tan. Trận đánh nổi tiếng trên sông Bạch Ðằng, dùng cọc nhọn cắm trên dòng sông (đã được Ngô Vương Quyền xử dụng đánh tan quân Nam Hán thế kỷ thứ 10) đã đánh tan quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi và làm khiếp đảm quân xâm lược. Trần Hưng Ðạo còn là một nhà quân sự đại tài của nhân loại trên thế giới. Ngài đã viết bản “Hịch Tướng Sĩ Văn”, được coi là một bản hùng văn nổi danh kim cổ. Ngoài ra, Hưng Ðạo Vương còn soạn ra quyển “Binh Thư Yếu Lược”, là một binh thư quý giá của dân tộc Việt dùng cho tướng sĩ trong công cuộc bảo vệ non sông. Lòng trung dũng, khí tiết anh hùng, và đức tính hy sinh tận tụy vì nước vì dân của Trần Hưng Ðạo, đã được toàn dân Việt tôn vinh Ngài là một vị Thánh.
    • Ðền Thờ: Tại làng Tức Mặc cùng nhiều nơi trong nước, nổi tiếng nhất là Ðền Kiếp Bạc ở Hải Dương.
    • Ngày Kỷ Niệm: Hàng năm vào ngày 20 tháng Tám âm lịch.

  • Trần Bình Trọng (1259-1285)
    • Tiểu Sử: Trần Bình Trọng gốc họ Lê, vì có Ông và Cha lập nhiều công trạng với triều nhà Trần nên được ban quốc tính. Trần Bình Trọng sinh năm Kỷ Mùi (1259) tại xã Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, được phong làm Bảo Nghĩa Vương. Khi giặc Nguyên xâm lăng Ðại việt lần thứ 2 (1285), Ông trấn giữ mặt trận Thiên Trường, chẳng may bị giặc bắt sống tại bãi Ðà Mạc vào ngày 21 tháng Giêng. Ông đã nhịn ăn và không chịu hàng giặc bằng câu nói bất hủ : “Thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc.”
    • Công Ðức: Trần Bình Trọng có công chống giữ giặc Nguyên xâm lăng và hy sinh vì Tổ Quốc. Tinh thần bất khuất của Ông được toàn dân Việt nhắc nhở mãi. Nhờ tinh thần bất khuất này, toàn dân toàn quân nhà Trần đã nức lòng chiến đấu, đánh đuổi giặc Nguyên ra ngoài bờ cõi.
    • Ðền thờ: Không rõ.
    • Ngày Kỷ Niệm: 21 tháng Giêng âm lịch (Ngày bị giặc bắt).

  • Lê Lợi (1385-1433)
    • Tiểu Sử: Lê Lợi sinh năm 1385, người làng Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xuất thân từ nghề nông, giàu có, tính hào sảng, có chí lớn, kết nạp được nhiều hào kiệt bốn phương. Năm 1418, Lê Lợi tự xưng là Bình Ðịnh Vương, cùng với một số tướng phất cờ khởi nghĩa ở núi Lam Sơn, đánh đuổi giặc Minh. Năm Mậu Thân (1428) Bình Ðịnh Vương Lê Lợi lên ngôi tức là vua Lê Thái Tổ, giữ quốc hiệu là Ðại Việt, làm vua được 6 năm thì mất (1433), thọ 49 tuổi.
    • Công Ðức: Bình Ðịnh Vương Lê Lợi kháng chiến chống Minh, gian khổ hơn mười năm mới giành lại được nền dộc lập nước nhà. Ðã có lần ông bị quân Minh vây khốn, phải nhờ Lê Lai hy sinh, liều mình cứu Chúa. Lê Lợi là một vị anh hùng dân tộc, có công cứu nước Nam khỏi vòng nô lệ của giặc nhà Minh.
    • Ðền thờ: Ðiện Lam Kinh, xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân cách tỉnh Thanh Hóa chừng 50 cây số.
    • Ngày Kỷ Niệm: 22 tháng Tám âm lịch. Lễ Hội Lam Kinh được tổ chức rất trang trọng.

  • Nguyễn Huệ (1753-1792)
    • Tiểu Sử: Ông Tổ họ Hồ, lấy họ mẹ (Nguyễn) khi dấy binh khởi nghĩa ở Qui Nhơn, Nguyễn Huệ sinh năm 1753, là em thứ hai của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Theo Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, “Nguyễn Văn Huệ có tiếng nói như chuông to, mắt lập lòe như ánh điện, là người thông minh, giỏi chiến đấu, người người đều kinh sợ.” Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Ðế năm 1788, lấy hiệu là Quang Trung, sau đổi tên là Nguyễn Quang Bình, mất năm 1792 thọ 40 tuổi.
    • Công Ðức: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ có công đánh đuổi 200 ngàn quân giặc Mãn Thanh do Tôn sĩ Nghị thống lĩnh sang xâm lấn nước Nam. Trận chiến thắng Ðống Ða ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) mãi mãi còn âm vang, làm người Nam hãnh diện và khiến kẻ thù phương Bắc phải kiêng nể. Vua Quang Trung cũng đã từng đánh tan 20 ngàn giặc Tiêm La tại Rạch Gầm, Soài Mút, ở phía trên Mỹ Tho và đem quân ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, thống nhất đất nước.
    • Ðền Thờ: Tại Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Ðịnh.
    • Ngày Kỷ Niệm: Mồng 5 tháng Giêng âm lịch (ngày chiến thắng Ðống Ða năm 1789).

©2003 Hùng Sử Việt