Tiểu Sử và Công Ðức các vị Anh
Hùng dân tộc Việt
Song Thuận
-
Giỗ Tổ HÙNG VƯƠNG
-
Tiểu sử: Hùng Vương
là tên gọi chung 18 đời Vua Hùng trong họ Hồng Bàng (2879-258
tr. Tây lịch). Nếu kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, có
tất cả 20 đời Vua (hoặc hơn?) trong họ Hồng Bàng.
-
Công đức: Các vị vua Hùng có
công lập nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam đầu tiên, nên
gọi là Quốc Tổ Hùng Vương.
-
Ðền thờ: Trên núi Ngũ Lĩnh,
Huyện Phong Châu, Tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) Bắc Việt, và nhiều nơi
khác trong nước. Tại Hoa Kỳ, có nhiều Ðền thờ Quốc Tổ Hùng Vương,
gọi tắt là Ðền Hùng ở các Tiểu Bang. Riêng tại Tiểu Bang California
có Ðền Hùng ở San Jose và Orange County (Little Saigon). Ðền Hùng
ở Little Sàigòn do Hội CNAM thờ phụn.
- Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch mỗi
năm.
- Kỷ Niệm Phù Ðổng Thiên Vương
(đời Hùng Vương thứ 6)
- Tiểu sử: Phù Ðổng Thiên Vương là tước phong của
một thiếu nhi làng Phù Ðổng, Bộ Võ Ninh (nay là tỉnh Bắc Ninh), lên
ba tuổi chưa biết nói. Nhân trong nước có giặc Ân rất hung bạo, vua
Hùng phải cho Sứ giả đi rao truyền khắp dân gian tìm người tài giúp
vua đánh giặc. Gặp Sứ giả, cậu bé bỗng biết nói, và tâu vua đúc ngựa
sắt, roi sắt đi đánh giặc. Sau đó, cậu bé vươn vai cao lớn, cưỡi ngựa
sắt, múa roi sắt dẹp tan giặc Ân, rồi đi lên Sóc sơn bay về trời.
Ðây có lẽ là câu truyện thần thoại nói lên ước vọng của người dân
trong thời giặc giã, mong sao có Thần linh phù hộ giúp vua dẹp giặc,
để được yên ổn làm ăn.
- Công đức: Phù Ðổng Thiên Vương là vị thần có công
giúp vua, giúp nước dẹp giặc giữ yên bờ cõi. Phù Ðổng Thiên Vương
cũng tượng trưng cho tuổi trẻ góp công sức giữ gìn bờ cõi. Câu chuyện
thần thoại này cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho giới văn nhân, nghệ
sĩ dùng làm đề tài sáng tác những tác phẩm ca tụng tuổi trẻ VN.
- Ðền thờ: Ở làng Phù Ðổng, Huyện Vũ Ninh.
- Ngày kỷ niệm: Mồng Tám tháng Tư âm lịch mỗi năm.
(Phù Ðổng Thiên Vương tục gọi là Thánh Gióng, nên dân làng Khâm, làng
Dâu và nhất là tại đình làng Gióng có mở Hội hàng năm, gọi là Hội
Gióng có diễn lại sự tích Phù Ðổng Thiên Vương phá giặc Ân rất vui,
nên ca dao có câu: “Mồng bẩy hội Khâm, Mồng tám hội Dâu, Mồng chín
đâu đâu, thì về hội Gióng.”
- Kỷ Niệm AN DƯƠNG VƯƠNG (257-207
tr. Tây lịch)
- Tiểu Sử: An Dương Vương tên húy là Thục Phán,
đánh bại Hùng vương thứ 18, lấy nước Văn Lang, đổi tên thành Âu
Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Huyện Ðông Anh, Tỉnh Phúc Yên—Bắc
Việt).
- Công Ðức: Lập ra nước Âu Lạc, có công xây thành
Cổ Loa, là một kiến trúc cổ chứng minh nền văn minh rất sớm của
dân tộc Việt.
- Ðền thờ: Làng Cổ Loa, huyện Ðông Anh, Tỉnh Phúc
Yên , gần Hà Nội Bắc Việt. Ngoài ra, trên núi Mộ Dạ, gần xã Cao
Ái, huyện Ðông Thành, tỉnh Nghệ An, có đền thờ An Dương Vương, gọi
là đền Công vì có nhiều chim công ở đó.
- Ngày Kỷ Niệm: Mồng 6 tháng Giêng Âm Lịch mỗi
năm.
- Hai Bà Trưng
- Tiểu Sử: Bà Trưng Trắc (? -
43 ) và Bà Trưng Nhị (? - 43) là hai chị em, con
gái quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng,
tỉnh Phúc Yên). Bà Trưng Trắc là vợ ông Thi Sách, người quận Châu
Diên, phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên.
- Công Ðức: Năm Canh Tí (40), Thái Thú Tô Ðịnh
quận Giao Chỉ là người bạo ngược, chính trị tàn ác, lại giết ông
Thi Sách nên lòng dân rất oán giận. Hai Bà Trưng có công đánh đuổi
Thái Thú Tô Ðịnh và quân Ðông Hán, hạ được 65 thành trì, giải phóng
quận Giao Chỉ và thu phục thêm ba quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp
Phố (Quảng Ðông), lấy lại phân nửa nước Nam Việt nhà Triệu. Hai
Bà Trưng lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Trưng Nữ Vương (40 - 43)
chính là những vị nữ anh hùng đã “Mở Ðường Ðộc Lập” cho dân tộc
Việt.
- Ðền thờ: Tại nhiều nơi như Làng Ðồng Nhân (Ðại
Lý Hoàn Long, phía Nam thành phố Hà Nội), Ðền Xã Hát Môn còn gọi
là “Miếu Hát” ngay bên bờ sông Hát (Huyện Phúc thọ, tỉnh Sơn Tây),
Ðền Hạ Lôi làng Hạ Lôi, phủ Yên Lăng, Tỉnh Phúc Yên (Mê Linh xưa).
- Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch mỗi
năm.
- Bà Triệu (225? - 248?)
- Tiểu Sử: Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh,
thường gọi là Bà Triệu. Sử không ghi rõ ngày sanh và ngày mất. Dựa
vào chi tiết Bà Triệu nổi dậy năm Mậu Thìn (248), chống cự với Lục
Dận được 5, 6 tháng thì bị thua và tuẫn tiết lúc đó mới 23 tuổi,
nên phỏng đoán Bà sinh khoảng năm Ất Tí (225?), người huyện Nông
Cống, tỉnh Thanh Hoá.
- Công Ðức: Năm Mậu Thìn (248), Bà Triệu cùng
anh là Triệu Quốc Ðạt khởi binh ở núi Bồ Ðiền, xuống đánh quận Cửu
Chân. Bà Triệu rất mưu lược và can đảm, thường cưỡi voi, mặc giáp
vàng xuất trận, và được suy tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Bà Triệu
đã có công thổi luồng gió cách mạng trong các tầng lớp dân chúng,
bằng những lời nói khẳng khái, bất hủ trong sử xanh, làm kích động
các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm dành độc lập của các thế hệ
tiếp nối: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá
tràng kình ở bể Ðông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm
đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm
tì thiếp người ta.”
- Ðền thờ: Trên núi Gai (núi Ải) ở xã Phú Ðiền,
huyện Mỹ Hóa (nay là làng Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc), tỉnh Thanh Hóa,
cách Hà Nội 137 cây số. Xưa được vua Lý Nam Ðế phong là “Bật chính
anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”, và có Lăng trên núi Tùng
đối diện với Ðền ở bên kia quốc lộ 1A. Lại có đền thờ ở huyện Yên
Hóa tỉnh Ninh Bình, được triều Nguyễn phong là Liệt nữ.
- Ngày kỷ niệm: Lễ hội hàng năm vào ngày 21 tháng
2 âm lịch.
- Ngô Quyền (898-944)
- Tiểu Sử: Ngô Quyền người làng Ðường Lâm (huyện
Phú thọ, tỉnh Sơn tây, nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây), sinh năm
898, con quan Châu Mục Ðường Lâm là Ngô Mân. Lớn lên, Ngô Quyền
có trí dũng và sức mạnh hơn người, cử nổi vạc lớn, được Dương Diên
(Ðình) Nghệ gả con gái cho và trao binh quyền giữ Ái Châu (Thanh
Hoá). Ngô Quyền mất năm Giáp Thìn (944), thọ 46 tuổi.
- Công Ðức: Năm 937, Dương Diên Nghệ bị người
con nuôi là Kiều Công Tiễn làm phản giết chết. Ngô Quyền mang quân
từ Ái Châu về hỏi tội, Kiều Công Tiễn bèn cầu cứu quân Nam Hán sang
xâm phạm nước ta.
Ngô Quyền trước hết tiêu diệt
Kiều Công Tiễn, sau đó dùng mưu đóng cọc gỗ bịt sắt nhọn trên sông
Bạch Ðằng. Tháng 12 năm 938, quân Nam Hán do Hoàng Tháo là con vua
Nam Hán chỉ huy, tiến vào sông Bạch Ðằng. Ngô Quyền dụ địch vào
bãi cọc, rồi chờ khi nước triều rút xuống rất nhanh, bèn cho quân
phản công mãnh liệt, khiến thuyền địch va vào cọc nhọn đều bị đắm
chìm ngổn ngang. Hoàng Tháo bị bắt tại trận và bị chém. Từ đó Nam
Hán không dám gây hấn với nước Nam nữa.
Ðánh đuổi xong quân Nam Hán, Ngô
Quyền lên ngôi Vương (năm 939), đóng đô ở Cổ Loa (huyện Ðông Anh,
Phúc Yên). Ngô Vương Quyền là người có công lớn mở ra nền độc lập
cho nước Nam sau hàng ngàn năm bị Tàu đô hộ.
- Ðền Thờ và Lăng: Ngày nay ở huyện Ba Vì, Tỉnh
Hà Tây (Sơn Tây).
- Ngày Kỷ Niệm: Không rõ.
- Lê Ðại Hành (941-1005)
- Tiểu Sử: Lê Ðại Hành họ Lê tên Hoàn, người làng
Trung Lập, Ải Châu (Thanh Hóa), làm quan Thập Ðạo Tướng Quân đời
nhà Ðinh, được quân sĩ tôn lên làm vua tức Ðại Hành Hoàng Ðế, vì
khi đó vua nhà Ðinh còn nhỏ mà quân Tống lại lâm le sang xâm chiếm
nước ta.
- Công Ðức: Vua Lê Ðại Hành có công phá Tống bình
Chiêm, giữ vững nền độc lập quốc gia. Năm 981, tướng nhà Tống là
Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đem bộ binh qua ngả Lạng Sơn và Lưu
Trừng mang thủy quân theo ngả Bạch Ðằng, sang xâm lấn nước ta. Lê
Ðại Hành phá tan quân Tống trên bộ, chém Hầu Nhân Bảo ở Chi Lăng
và đuổi được quân Tống về Tàu.
Sau khi bình định Chiêm Thành,
Lê Ðại Hành đã dẹp yên 49 động Hà Man và giặc giã khắp nơi, yên
trị được đất nước.
- Ðền Thờ: Hiện nay ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
còn có đền thờ.
- Ngày Kỷ Niệm: Không rõ.
- Lý Thường Kiệt (1019-1105)
- Tiểu Sử: Lý Thường Kiệt tên húy là Ngô Tuấn,
tự Thường Kiệt, người làng An Xá, Huyện Quảng Ðức (nay thuộc Hà
Nội), làm quan trải qua 3 đời vua: Lý Thái Tông (1028-1054), Lý
Thánh Tông (1054-1072) và Lý Nhân Tông (1072-1127), khởi đầu là
chức hoạn quan nhỏ (Hoàng Môn Chi Hậu) nhờ có vẻ mặt “tươi đẹp lạ
thường”, sau làm tới chức Thượng Trụ Quốc, Thái Úy, tước Khai Quốc
Công, và được nhận làm Thiên Tử Nghĩa Ðệ (em kết nghĩa với Thiên
Tử), mang quốc tính họ Lý. Lý Thường Kiệt sinh năm Kỷ Mùi (1019)
và mất năm Ất Dậu (1105), thọ 86 tuổi.
- Công Ðức: Lý Thường Kiệt có công phá Tống bình
Chiêm, đặc biệt đã mang quân chinh phạt tận đất Tống, cùng Tướng
Tôn Ðản đánh phá các thành châu Ung (Quảng Tây), châu Khâm và châu
Liêm (Quảng Ðông), và lập chiến tuyến Như Nguyệt trên bờ Nam sông
Cầu, trấn giữ và đẩy lui quân Tống xâm lăng, bảo vệ non sông Ðại
Việt. Lý Thường Kiệt đã để lại cho hậu thế 4 câu thơ bất hủ, tựa
như một lời tuyên ngôn độc lập:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”.
“Tiệt nhiên định phận tại thiên
thư”
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
- Ðền Thờ: Ðược lập ở nhiều nơi trong nước.
- Ngày Kỷ Niệm: Tháng 6 âm lịch (Lý Thường Kiệt
mất vào tháng 6 năm Ất Dậu).
- Trần Hưng Ðạo (?-1300)
- Tiểu Sử: Trần Hưng Ðạo tên húy là Trần Quốc
Tuấn, người làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc tỉnh Nam Ðịnh),
tổ tiên làm nghề chài lưới, con trai thứ của An Sinh Vương Trần
Liễu, sau được phong là Hưng Ðạo Vương. Trần Hưng Ðạo sinh vào khoảng
năm 1230 đến 1232, mất ngày 20 tháng tám năm Canh Tí (1300), thọ
khoảng 70 tuổi.
- Công Ðức: Trần Hưng Ðạo có công đánh đuổi giặc
Nguyên tức quân Mông Cổ hung bạo nhất thế giới ở thế kỷ 13. Giặc
Nguyên xâm lăng nước Ðại Việt 3 lần, đều bị quân tướng nhà Trần
dưới quyền chỉ huy của Hưng Ðạo Ðại Vương đánh tan. Trận đánh nổi
tiếng trên sông Bạch Ðằng, dùng cọc nhọn cắm trên dòng sông (đã
được Ngô Vương Quyền xử dụng đánh tan quân Nam Hán thế kỷ thứ 10)
đã đánh tan quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi và làm khiếp đảm quân
xâm lược. Trần Hưng Ðạo còn là một nhà quân sự đại tài của nhân
loại trên thế giới. Ngài đã viết bản “Hịch Tướng Sĩ Văn”, được coi
là một bản hùng văn nổi danh kim cổ. Ngoài ra, Hưng Ðạo Vương còn
soạn ra quyển “Binh Thư Yếu Lược”, là một binh thư quý giá của dân
tộc Việt dùng cho tướng sĩ trong công cuộc bảo vệ non sông. Lòng
trung dũng, khí tiết anh hùng, và đức tính hy sinh tận tụy vì nước
vì dân của Trần Hưng Ðạo, đã được toàn dân Việt tôn vinh Ngài là
một vị Thánh.
- Ðền Thờ: Tại làng Tức Mặc cùng nhiều nơi trong
nước, nổi tiếng nhất là Ðền Kiếp Bạc ở Hải Dương.
- Ngày Kỷ Niệm: Hàng năm vào ngày 20 tháng Tám
âm lịch.
- Trần Bình Trọng (1259-1285)
- Tiểu Sử: Trần Bình Trọng gốc họ Lê, vì có Ông
và Cha lập nhiều công trạng với triều nhà Trần nên được ban quốc
tính. Trần Bình Trọng sinh năm Kỷ Mùi (1259) tại xã Bảo Thái, huyện
Thanh Liêm, được phong làm Bảo Nghĩa Vương. Khi giặc Nguyên xâm
lăng Ðại việt lần thứ 2 (1285), Ông trấn giữ mặt trận Thiên Trường,
chẳng may bị giặc bắt sống tại bãi Ðà Mạc vào ngày 21 tháng Giêng.
Ông đã nhịn ăn và không chịu hàng giặc bằng câu nói bất hủ : “Thà
làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc.”
- Công Ðức: Trần Bình Trọng có công chống giữ
giặc Nguyên xâm lăng và hy sinh vì Tổ Quốc. Tinh thần bất khuất
của Ông được toàn dân Việt nhắc nhở mãi. Nhờ tinh thần bất khuất
này, toàn dân toàn quân nhà Trần đã nức lòng chiến đấu, đánh đuổi
giặc Nguyên ra ngoài bờ cõi.
- Ðền thờ: Không rõ.
- Ngày Kỷ Niệm: 21 tháng Giêng âm lịch (Ngày bị
giặc bắt).
- Lê Lợi (1385-1433)
- Tiểu Sử: Lê Lợi sinh năm 1385, người làng Lam
Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xuất thân từ nghề nông, giàu có, tính hào sảng,
có chí lớn, kết nạp được nhiều hào kiệt bốn phương. Năm 1418, Lê
Lợi tự xưng là Bình Ðịnh Vương, cùng với một số tướng phất cờ khởi
nghĩa ở núi Lam Sơn, đánh đuổi giặc Minh. Năm Mậu Thân (1428) Bình
Ðịnh Vương Lê Lợi lên ngôi tức là vua Lê Thái Tổ, giữ quốc hiệu
là Ðại Việt, làm vua được 6 năm thì mất (1433), thọ 49 tuổi.
- Công Ðức: Bình Ðịnh Vương Lê Lợi kháng chiến
chống Minh, gian khổ hơn mười năm mới giành lại được nền dộc lập
nước nhà. Ðã có lần ông bị quân Minh vây khốn, phải nhờ Lê Lai hy
sinh, liều mình cứu Chúa. Lê Lợi là một vị anh hùng dân tộc, có
công cứu nước Nam khỏi vòng nô lệ của giặc nhà Minh.
- Ðền thờ: Ðiện Lam Kinh, xã Xuân Lam, huyện Thọ
Xuân cách tỉnh Thanh Hóa chừng 50 cây số.
- Ngày Kỷ Niệm: 22 tháng Tám âm lịch. Lễ Hội Lam
Kinh được tổ chức rất trang trọng.
- Nguyễn Huệ (1753-1792)
- Tiểu Sử: Ông Tổ họ Hồ, lấy họ mẹ (Nguyễn) khi
dấy binh khởi nghĩa ở Qui Nhơn, Nguyễn Huệ sinh năm 1753, là em
thứ hai của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Theo
Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, “Nguyễn Văn Huệ có tiếng nói như
chuông to, mắt lập lòe như ánh điện, là người thông minh, giỏi chiến
đấu, người người đều kinh sợ.” Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Ðế năm
1788, lấy hiệu là Quang Trung, sau đổi tên là Nguyễn Quang Bình,
mất năm 1792 thọ 40 tuổi.
- Công Ðức: Vua Quang Trung Nguyễn Huệ có công
đánh đuổi 200 ngàn quân giặc Mãn Thanh do Tôn sĩ Nghị thống lĩnh
sang xâm lấn nước Nam. Trận chiến thắng Ðống Ða ngày mồng 5 Tết
Kỷ Dậu (1789) mãi mãi còn âm vang, làm người Nam hãnh diện và khiến
kẻ thù phương Bắc phải kiêng nể. Vua Quang Trung cũng đã từng đánh
tan 20 ngàn giặc Tiêm La tại Rạch Gầm, Soài Mút, ở phía trên Mỹ
Tho và đem quân ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, thống nhất đất nước.
- Ðền Thờ: Tại Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Ðịnh.
- Ngày Kỷ Niệm: Mồng 5 tháng Giêng âm lịch (ngày
chiến thắng Ðống Ða năm 1789).
|