|
Ăn Tết ngày xưa ...
Song Thuận
Tết
đối với người Việt ở quê nhà ngày xưa...là một ngày Hội, một ngày nghỉ
lễ, nhất là Tết Nguyên Đán hàng năm vào ngày mồng một tháng Giêng âm lịch,
được coi như một ngày Lễ Hội truyền thống thiêng liêng và trọng đại nhất.
Trong những ngày Tết, tất cả các sinh hoạt bình thường đều ngưng lại:
Công tư sở, trường học, chợ và các cửa hàng buôn bán đều đóng cửa, ngoại
trừ các cửa hàng ăn và các nơi có trò chơi giải trí. Vì ngày Tết là dịp
để tất cả mọi người được nghỉ ngơi, ăn chơi vui vẻ, nên dân gian có câu
“vui như Tết”.
Chuẩn bị Tết: Dân
chúng Việt Nam chuẩn bị ăn Tết hàng tháng trước. Người ta lo tiền bạc,
mua sắm quần áo mới, nhất là cho con trẻ, mua dự trữ thực phẩm, sơn phết
dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ khang trang, tô điểm bàn thờ, trang trí nhà cửa
với nhiều mầu hồng tượng trưng sự vui tươi may mắn, để ăn Tết. Dân làng
thì lo “đụng heo” (mua chung 1 con heo vỗ mập chờ Tết chia
thịt), nuôi gà sống thiến, mua cá thu cặp que để kho, mua lá dong, lá
chuối để gói bánh chưng, bánh tét.
Càng gần đến Tết, “không khí
Tết” càng nhộn nhịp. Nhu yếu phẩm bắt đầu tăng giá do luật cung
cầu. Dân tỉnh lo mua sắm thức ăn, mua hoa tươi như đào, cúc, mai, lay-ơn,
huệ, và trái cây như bưởi, dưa hấu... Chợ Hoa, Chợ Tết tấp nập mở ra choán
hết đường đi. Lưu thông tắc nghẽn. Dân làng thì mua sắm câu đối đỏ, tranh
vẽ dân gian về treo. Nhiều nhà đã bắt đầu trồng cây nêu, mua tràng pháo,
rắc vôi bột hoặc quét vôi trắng các gốc cây gần nhà để trừ ma quỉ...
Đến 23 tháng chạp là ngày ông Táo về
Trời. Tết đã đến cửa ngõ. Công sở làm việc lơ là, trường học được nghỉ
hoặc chỉ tổ chức “Liên hoan Tất Niên”...Tại các làng quê,
đình chùa đã vang rộn tiếng chuông tiếng trống. Dân làng tụ họp phân công
trang trí lại ngôi Đình thờ Thành Hoàng, bàn bạc chương trình tổ chức
thi mâm cỗ cho ngày mồng 2 Tết, hoặc sửa soạn dựng rạp cho gánh hát chèo,
hát bội, cải lương từ tỉnh về lưu diễn. Trẻ em được nghỉ học sớm, chạy
tung tăng nô đùa cùng mấy con vện, con vàng sủa nhặng ồn ào.Vài tiếng
pháo đì đùng đã bắt đầu nổi lên làm mấy bác thợ cạo bị giâït mình khi
lo cạo mặt, hớt tóc cho khánh hàng có đầu mới ăn Tết.
Liên Hoan Tất Niên:
Xưa tại Sài Gòn, các công tư sở, các trường Trung học cũng như các trường
Đại Học kể cả tư gia, thường tổ chức Liên Hoan Tất Niên. Đây là những
ngày vui của tuổi thanh xuân, của tình yêu đôi lứa đầy thơ mộng. Những
buổi gặp gỡ, ca hát, ăn uống nhẩy nhót có khi thâu đêm suốt sáng tại tư
gia, làm cho hương vị Tết thêm hương men nồng, say hết một đời chưa tỉnh!
Báo Xuân: Nói đến
Tết phải nói tới Báo Xuân, vì đó là món ăn tinh thần không thể thiếu.
Tờ báo Xuân nào cũng có một hình bìa mầu sắc sặc sỡ vui tươi. Hình quả
dưa hấu đỏ bổ đôi, hình hoa mai vàng ánh, hình hoa đào, hình cô gái đẹp
má đỏ môi hồng, hình em bé bụ bẫm, hình lão trượng râu tóc bạc phơ, thân
hình quắc thước...Nội dung tờ báo Xuân nào cũng có một bài “Sớ Táo
quân” và một bài khảo luận về “Con Giáp” của năm mới!
Năm nay Tết “Con Khỉ”, chuyện khỉ hẳn sẽ “bù khú”
lắm!
Ba mươi Tết: Thật
sự Tết đã vào nhà. Ông Táo trở lại sau một thời gian vắng mặt chầu Trời.
Nhà nhà đều lo rước Ông Bà Ông Vải về ăn Tết bằng một bữa ăn thịnh soạn
cúng chiều ba mươi Tết. Tiếng pháo nổ râm ran khắp nơi, và pháo nổ nhiều
nhất vào đêm Giao Thừa còn gọi là đêm Trừ Tịch, giao điểm giữa năm cũ
và năm mới. Trong suốt 3 ngày Tết, tiếng pháo thường xuyên nổ liên tiếp
không ngừng.
Giây phút Giao Thừa
thật thiêng liêng. Từ buổi tối, nhiều nhà còn thức canh nồi bánh chưng,
cười rúc rích kể chuyện tiếu lâm, hoặc nín thở nghe kể chuyện ma. Cũng
có khi chơi bài tam cúc chờ Giao Thừa. Mới 11 giờ 30 đêm. Ba Mẹ đã quần
áo tươm tất, bày mâm ngũ quả ra giữa sân trống để chuẩn bị cúng Giao Thừa.
Mâm ngũ quả gồm có bưởi, mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài. (Theo tiếng Nam đó
là một lời cầu xin: Cầu dzừa đủ sài! Thật khiêm nhượng và dễ thương).
Hỏi tại sao lại cúng bưởi, có cụ giải thích bưởi còn gọi là bồng tức là
“bồng ông Phúc vào nhà”, theo câu đối của cụ Nguyễn Công Trứ:
“Chiều ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa. Sáng
mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.” Đêm
Giao thừa, trai thanh gái lịch thường rủ nhau “đi lễ đi liếc”
rất đông đảo ở chùa chiền, đền đài (như Lăng Ông ở Sài Gòn chẳng hạn),
hoặc đi lễ nhà thờ.
Sáng Mồng Một: là
một buổi sáng đầu năm mới rất thiêng liêng. Hương trầm được đốt lên khói
tỏa nghi ngút khắp nhà, quyện với mùi khói pháo nổ, tạo thành không khí
Tết khó quên. Cả nhà ai cũng mặc quần áo mới, đi đứng rón rén, nhẹ nhàng,
nét mặt tươi cười, dễ dãi. Kiêng những tiếng động lớn, tránh làm rơi rớt
đồ đạc, bể chén đĩa xui xẻo cả năm. Kiêng quét nhà, giặt rũ, rửa chén,
tắm rửa đầu năm (ai cũng lo “tắm tất niên” cả rồi). Tránh
to tiếng, cãi nhau, mắng chửi, cãi lộn. Ai cũng chúc nhau những lời tốt
lành, lì xì, mừng tuổi nhau. Mẹ chồng nàng dâu cho dù cả năm bất hoà,
cũng đều tươi cười chúc phúc cho nhau. Không khí đầu năm mới thật là hoà
bình và hạnh phúc.
Pháo và Lân: Tục đốt
pháo ngày Tết, ban đầu do sự tin tưởng vào tiếng động sẽ xua đuổi tà ma.
Nhiều nơi, đêm Giao Thừa ngoài tiếng pháo, người ta còn dùng nồi niêu
soong chảo bằng nhôm khua vang động, hoặc đánh trống, đập phèng la kể
cả bắn súng lên trời ầm ĩ. Sau này, vì tiếng pháo gây tiếng động vui tươi,
nên ai cũng đốt pháo lấy hên. Tiếng pháo nổ ròn rã kèm thêm tiếng trống
múa Lân nữa thì tuyệt vời! Các đội múa Lân thường có võ nghệ, múa thật
đẹp mắt, nhất là khi Lân phải trèo cao để giật giải. Người Việt Nam cũng
như người Trung Hoa tin rằng múa Lân và đốt pháo đầu năm sẽ mang lại nhiều
sự may mắn.
Khai
bút đầu năm:
“Đầu năm khai bút, bút khai hoa”,
tuy không phải là một tục lệ, nhưng khá phổ biến trong giới “văn
học” ngày xưa. Các cụ thường dậy sớm, ăn mặc chỉnh tề, mang “mực
tàu, giấy đỏ” thảo đôi câu đối Tết treo lên tường lấy hên, hoặc
sang thời “Tây học”, các nhà thơ, nhà văn kể cả học trò “nhóc
tì” như chúng tôi thuở đó, cũng có thói quen “khai bút”,
thí dụ như tìm một vần thơ xuân có ý nghĩ tốt lành, hoặc một lời tâm sự
thương yêu, để hy vọng được hưởng một năm văn hay chữ tốt. Các em bé cũng
được cha mẹ cho tập viết một vài nét chữ đầu năm, với niềm tin cả năm
các em sẽ học giỏi hơn người.
Coi bói đầu năm và chúc Tết:
Đi lễ xin xâm hay coi bói đầu năm cũng
trở thành thói quen ngày Tết. Ngưòi ta tin rằng, năm mới linh thiêng lắm,
nhất là ngày mồng một Tết. Ai có được niềm vui và may mắn trong ngày này,
sẽ được vui và may mắn cả năm.
Coi bói, ngoài việc nhờ thầy bói (thường
là thầy bói mù) gieo quẻ, người ta còn “bói Kiều”, (lấy cuốn
truyện Kiều lật đại một trang, nếu gặp được đoạn nói về Kiều tái hồi Kim
Trọng chẳng hạn, tức là năm đó sẽ có hy vọng gặp lại người tình xưa!).
Ngoài bói Kiều đầu năm, người ta còn “bói cải lương”, “bói
kịch”...(vào xem cải lương trễ, gặp ngay cảnh Lữ Bố hí Điêu Thuyền,
sẽ tin rằng mình có số đào hoa!)
Chúc Tết đã trở thành phong tục tập
quán của người Việt Nam từ lâu. Người ta chúc nhau những điều tốt lành
trong ngày đầu năm. Mừng tuổi cho trẻ em “mau ăn chóng lớn”,
chúc các đôi vợ chồng trẻ: “đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh
con gái”, chúc các cụ được “tăng phúc tăng thọ”, chúc
các Thầy Thông Thầy Phán được “Thăng quan tiến chức”, và chúc
các vị thương gia “buôn may bán đắt, buôn một lãi mười, bằng năm
bằng mười năm ngoái”, hoặc “phát tài, phát lộc” vân...vân.
Cũng bởi nhiều khi lời chúc tụng quá lố, chướng tai, Cụ Tú Xương bèn châm
biếm:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang”
“Đứa thì mua tước, đứa mua quan”
“Phen này ông quyết đi buôn lọng”
“Vừa bán, vừa la cũng đắt hàng”
Xuất hành xông đất và hái lộc
đầu năm:
Tục xuất hành đầu năm lấy may, thường
dựa vào lịch sách hoặc thầy bói, nhà tướng số, để chọn hướng xuất hành
rất cẩn thận. Đàn bà con gái không nên ra đường sớm quá để tránh cảnh
“ra ngõ gặp gái” xui sẻo, bị la rầy oan uổng. Trẻ con và người
đang có tang cũng nên ở nhà sáng Mồng Một Tết, chớ có xớ rớ “xông
đất” nhà người khác mà mang vạ. Ai cùng ăn diện đẹp đẽ, xuất hành
đi lễ chùa hay lễ nhà thờ sáng Mồng Một và hái lộc đem về nhà. “Lộc”
thường là một cành cây có búp non, một cành hoa...“Tệ nạn”
hái lộc ngày xưa nhiều khi đã làm tiêu tan cả một vườn cây của nhà chùa.
Cúng Ông Bà:
Trong 3 ngày Tết, thường phải bày cỗ
cúng Ông Bà (nàng dâu lãnh đủ công việc này), cho tới khi “hóa vàng”.
Cỗ cúng gồm có thịt gà luộc, một món sào bóng tôm thịt, thịt mỡ ba chỉ
hoặc thịt giò heo kho trứng, giò thủ. Cá thu kho..một món canh, tùy theo
khẩu vị của ông bà khi còn sống, và ...tùy theo gia chủ, vì cỗ cúng sẽ
là cỗ Tết của gia đình. Tập tục này ban đầu chỉ có tính cách tượng trưng,
để tỏ lòng thành mời ông bà cùng ăn Tết với con cháu. Nhưng sau, cứ bày
vẽ ra, tưởng tượng như các cụ về sơi cỗ, cũng “phàm phu tục tử”
như người trần, nên bày ra lắm thứ. Chưa kể còn cảnh mê tín đốt vàng mã,
vừa tốm kém , lại nguy hiểm vì nạn cháy nhà. Lễ “hoá vàng”
tùy nhà, có khi ngay chiều mồng một Tết, có khi kéo dài tới mồng 6 Tết
không chừng.
Từ trưa đến tối mồng một Tết, người
ta đến nhà Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng thân thuộc để chúc Tết và mừng tuổi
(lì xì) cho các em bé (em gái lớn chưa chồng cũng được lì xì).
Mồng Hai Tết:
Ngày mồng hai Tết dành cho Bạn bè,
hoặc đi xem hát (Mồng Một Tết cũng được đi xem hát sau khi làm xong bổn
phận chúc Tết Ông Bà, Cha Mẹ, Họ Hàng).
Mồng Ba Tết trở đi
(còn Mồng, còn Tết):
Được tự do ăn Tết thoải mái. Tùy theo
địa phương, ngày Tết có khi kéo dài hàng mười ngày hay lâu hơn, nhất là
đối với dân làng, Tết là thời gian rảnh rỗi, vụ Mùa đã xong, vụ Chiêm
chưa tới. Tết kéo dài hàng tháng là thường.
“Tháng Giêng ăn Tết ở nhà”
“Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội
hè”
Ăn Tết lâu như thế, không sản xuất,
“miệng ăn núi lở”, dân ta xưa kia đa số nghèo khó cũng phải.
Tết Truyền Thống Việt Nam xưa, chưa
có Hội Chợ Tết và Diễn Hành Xe Hoa như ngày nay ở Little Saigon, California.
Tuy nhiên, tại đình chùa và nơi công cộng, thường có mở hội, hát tuồng,
hát chèo, cải lương, chơi cờ người, tổ tôm điếm, hoặc tổ chức thi mâm
cỗ, thi đánh đu, đua thuyền, leo cột mỡ, kéo co, nhất là đấu vật, rất
vui nhộn mà không ai phải mất tiền mua vé vào cửa. Tại các nơi mở hội,
trên hè phố hoặc trong mỗi nhà thường có sòng bài, chơi bầu cua cá cọp,
sóc đĩa, thò lò, đánh chắn, tổ tôm, tam cúc...sát phạt nhau khá tận tình.
Kẻ được bạc vui vẻ vì hên cả năm. Kẻ thua bài cũng vui luôn, vì tuy đen
bạc, nhưng... đỏ tình!
Tùy theo địa phương, Tết truyền thống
Việt Nam xưa có đôi chút đổi thay. Nhưng ở đâu thì ngày Tết cũng rất thiêng
liêng và trọng đại. Vì đó là một ngày mang lại niềm hy vọng mới, xóa hết
buồn phiền xui xẻo của năm cũ, hứa hẹn một năm mới vui tươi , hạnh phúc
và tràn đầy may mắn tựa như những lời chúc trên tấm thiệp chúc Tết được
gửi đến mỗi nhà từ trước Tết.
Kính chúc toàn thể Quý vị một năm mới
được vạn sự như ý. Cung Chú c Tân Xuân! Chúc Mừng Năm Mới!
|